Search Results
Tìm thấy 40 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống
- [Kinh nghiệm] Review phỏng vấn Google mùa Covid (2021)_Phần cuối
Hơn 1 tuần sau, Sherry mail hẹn nói chuyện trực tiếp để thông báo kết quả với 1 tông giọng có vẻ tích cực. “I’d love to discuss it with you over the phone about it!” Báo kết quả mà cũng không nói luôn còn bày đặt gọi điện! Mình cũng lên Quora search thử thì có vẻ văn phong này là tin tốt. Tự dưng nghĩ hay là qua rồi nhỉ, biết đâu lại ăn may. Mình còn nghĩ trước xem deal offer như nào là như nào, vân vân rồi mây mây. Nhưng cuối cùng đời chẳng như là mơ các bạn ạ. Kết quả: Tạch! Anh khá tốt nhưng em rất tiếc! Chúng em có những ứng viên khác tốt hơn! Đúng là bọn thầy phán trên Quora… Kinh nghiệm rút ra Sau vài hôm mình có tham vấn ý kiến của một số bạn bè cũng làm trong GAFA và mấy công ty Mỹ, đúc kết ra nhiều kinh nghiệm Phone Interview là để sàng lọc. Ứng viên nếu quá tồi không qua được Phone thì khỏi tổ chức Onsite làm gì cho phí công. Vì vậy thể hiện được một mức nhất định là sẽ qua. Onsite là câu chuyện khác. Mình phải cạnh tranh với các ứng viên Onsite khác cho chỉ 1 đến 2 vị trí cao nhất trên cùng. 70 bài LeetCode là không đủ. Một anh bạn người Ấn (hiện đã vào Microsoft) đã làm 360 bài Medium + Hard và … đã bị Google Reject 3 lần. Khi vào onsite là xác định cạnh tranh với những ứng viên như trên. Google luôn có rất nhiều ứng viên như thế ứng tuyển. Mình hơi …đen theo 1 ý nghĩa nhất định. —- Theo như góp ý của 1 Googler thì mình fail Hiring Committee trước khi đến Team Match, có nghĩa là chưa đến đoạn cạnh tranh với các ứng viên khác. Có thể hiểu 1 cách gián tiếp là có nhiều ứng viên phỏng vấn và họ đều luyện tập Coding/Algorithm. Google chỉ có 1 số headcount nhất định nên cái bar để pass sẽ được điều chỉnh theo số đông, và mình chưa qua được cái bar đó. —- Một ý nữa khá thuyết phục, là các công ty Mỹ thường định nghĩa tuyển dụng thất bại theo 2 loại: False negative: Loại nhầm người làm được việc. Trong 10 người ứng tuyển, họ lấy 1 loại 9, nhưng có thể 7-8 người trong 9 người kia làm được việc. False positive: Tuyển nhầm, để lọt người không làm được việc vào công ty. Bạn hiểu đơn giản là 1 thanh niên amateur vào viết code bậy bạ rồi sập server, hỏng hết sản phẩm công ty. Các công ty thường muốn tránh (2) hơn (1), và thiết lập rất nhiều vòng Code để loại trừ các yếu tố may mắn. Đơn cử mình có thể ăn may khi biết trước đề và lời giải của 1 bài, nhưng không thể biết trước đề và lời giải của cả 6 bài. Đỗ có nghĩa là tất cả các vòng đều phải thể hiện ok. Điểm tốt là chuyện trượt cũng không có nghĩa mình sẽ vào danh sách đen hay gì, sau 1 năm có thể thử lại. Con số 1 năm đặt ra là do Google nghĩ dưới 1 năm thì 1 ứng viên chưa thể cải thiện được đủ nhiều. Vậy thôi còn gì để nói nữa nhỉ, kết quả là hợp lý. Đổi lại mình thu được kinh nghiệm xem GAFA nó ra ngô ra khoai thế nào, và biết được cách làm để đạt được mục đích. Vậy nhé, chúc mọi người vui vẻ. Mọi câu hỏi cứ comment bên dưới mình sẽ trả lời dần!
- [Kinh nghiệm] Review phỏng vấn Google mùa Covid (2021) – Phần 2: Onsite
1. Chuẩn bị cho Onsite Còn 10 ngày nữa là đến Onsite. Sherry giọng hay rất tốt bụng khi cho mình một vài phản hồi nho nhỏ, một tài liệu chuẩn bị dài gấp đôi lần trước kèm theo 1 câu chúc may mắn. Chắc là giống nhau cả ấy mà bạn ấy gửi cho …vui. Sơ qua thì mình sẽ có 5 vòng liên tiếp: System Design (60 phút) Googleyness & Leadership (45 phút) Coding (45 phút) Coding (45 phút) Domain Knowledge (45 phút) Mỗi vòng cách nhau 15 phút. Riêng giữa vòng 2 và 3 sẽ có 1 tiếng nghỉ ngơi. Mình book lịch từ 2h chiều đến gần 8h tối kết thúc. Lịch ngày hôm đấy như này: Onsite Calendar Theo tài liệu thì vòng 2 là đàm đạo về tính cách. Vòng 5 là cà khịa về kiến thức iOS và Mobile. 2 vòng này hỏi sao nói nấy thôi chứ cũng không có thời gian mài dũa gì. Vòng 3 và 4 sẽ giống phone interview nhưng nâng cao độ khó, là lý do chính để luyện LeetCode. Vòng 1 có vẻ lại là 1 vấn đề nan giải khác. Mình không có nhiều thông tin và cũng chưa làm System Design bao giờ. Video hướng dẫn nói rằng sẽ không code, dùng bảng trắng thiết kế một hệ thống/ứng dụng, vẽ ra module, kiến trúc phân tầng, triển khai các phương hướng dưới dạng 1 câu hỏi mở, etc. Vì phỏng vấn online nên có thể sẽ dùng tính năng Google Jamboard trên Hangout. Như vậy mình vạch ra kế hoạch luyện tập trong 10 ngày như sau: 1.1 ÔN DESIGN Mình design thử kiến trúc cho một vài app nổi tiếng như Twitter, Facebook hay Google Maps. Nếu bạn ứng tuyển vị trí BackEnd thì System Design sẽ rất khác, hãy tham khảo system design primer ở đây https://github.com/donnemartin/system-design-primer 1.2 ÔN CẤU TRÚC DỮ LIỆU VÀ THUẬT TOÁN LeetCode, LeetCode, và LeetCode. Mình đã: Nâng tổng lượng bài nâng lên gần 70 bài Medium và gần 10 bài Hard. Cộng với khoảng 20 bài chỉ đọc lời giải để cover cách làm. Mua tài khoản Premium, lấy gói câu hỏi của Google để luyện. Đọc hết quyển Elements of Programming Interviews (ngắn hơn quyển Cracking The Code Interview, do ít thời gian). LeetCode Premium Mình chia sẻ nội dung ôn cụ thể của 10 ngày nhé: Elements of Programming Interviews, Big-O notations. Array, String, LinkedList Stack, Queue, Tree Search, Hash, Sort Recursion, Dynamic Programming, Graph DFS, BFS, BackTrack 1 số chủ đề nâng cao (Trie, Disjoint Sets, Segment Tree) Reflection (tự review những bài đã làm) Ôn Design Luyện random theo tất cả các chủ đề. Đi làm mình có bao giờ động đến mấy cái của nợ này đâu nên học lại ong hết cả thủ. Mỗi ngày mình làm khoảng 5 bài (trong 10 ngày tăng 5×10 = 50 bài). Mấy chủ đề nâng cao thật sự là rất vô vọng, nếu gặp mình xác định sẽ hỏi gợi ý. 2. Onsite day Cuối cùng thì cũng lên thớt. Mình xin phép review 2 phần quan trọng nhất. 2.1. PHỎNG VẤN CODING Thực sự là vào onsite thì Coding khó hơn mình nghĩ, khó hơn vòng phỏng vấn qua Phone khá nhiều. Cụ thể là: Coding: Ở vòng Phone bạn có 45 phút cho 1 câu hỏi cỡ Medium. Ở Onsite bạn có 40 phút cho 2-3 câu hỏi, cầu đầu Easy, câu sau Medium đến Hard. Tại sao lại chỉ có 40 phút? Bởi vì 5 phút cuối phải dùng để ứng viên và người phỏng vấn hỏi chuyện về cuộc sống công việc ở Google, v..v Cá nhân mình thấy nói chuyện cũng vui, cơ mà mất 5 phút thì chẳng vui tí nào. Với 40 phút cho 2 câu, bạn tốt nhất nên làm xong câu Easy trong 10-15 phút. Bạn sẽ còn lại tối đa 30 phút cho câu Medium hoặc Hard. Tỉ lệ câu 2 ra Hard là có. Cái này hoàn toàn là may rủi. Mình đụng trúng câu Hard 1 lần, và 3 lần ra Medium. Để dễ hình dung thì bạn lên LeetCode làm thử câu Hard sẽ biết, mất khoảng 1 tiếng là bình thường. (Chia buồn với mình đi, thật đấy) Bạn phải tự nghĩ ra tập test mẫu để test bằng mắt, và nếu sai thì phải debug bằng mắt. Nếu ngồi 5 phút không nghĩ ra thuật toán tối ưu, cứ bắt tay vào viết theo cách làm thô sơ bỉ ổi nhất mình nghĩ ra, miễn là nó chạy đúng. Vòng Domain (vòng 5 mà mình nghĩ hiểu là hỏi nội dung iOS ấy), thực tế cũng là 2 câu code với câu 1 liên quan 1 chút đến iOS. Google đúng là Google, tất cả là Code. Vấn đề giao tiếp Khả năng giao tiếp của người phỏng vấn hên xui toàn tập. Gặp những nước native như Anh, Mỹ, Úc, hay những nước phát âm tương đối giống VN như TQ là may mắn. Mình gặp 1 anh ở London, 1 anh ở Tokyo và 1 bạn ở Thượng Hải giao tiếp rất mượt mà. Tuy vậy với những nước như Nga, Pháp hay Đức thì vô cùng nhọ. Mình gặp 1 anh ở Zurich (Thụy Sỹ) và nói rất giống tiếng Đức, thật sự là giao tiếp rất khó khăn. Trên LeetCode bạn nhìn thấy đề bài và 1 số tập test mẫu để làm ngay. Ở phỏng vấn thật, người ta vừa có thể nói khó nghe, vừa có thể không paste cái đề bài luôn vào Google Docs cho mình đọc. Mình mất 5 phút vì anh ở Thụy Sỹ đọc đề bài xong mình vẫn không hiểu hết, và lại phải nhờ ảnh paste vào để đọc lại từ đầu. 5 phút là vô cùng quý giá. Đừng tin mấy cái video là cần giao tiếp nhiều thật nhiều với người phỏng vấn. Bạn chỉ nên xác nhận lại những điểm chưa rõ rồi nên bắt tay vào làm luôn. Khi làm xong phải tự debug bằng mắt, tự nghĩ ra các edge case, trick case để sửa. Cuối cùng bạn mới nên thảo luận về độ phức tạp và cách cải thiện thuật toán. 2.2 SYSTEM DESIGN Chân ướt chân ráo đi vào, một anh kỹ sư người Châu Âu nói tiếng Anh hơi khó… Và ảnh đưa cho mình 1 câu hỏi khá dễ. Câu hỏi này làm mình hơi bối rối vì nó có vẻ đúng là 1 câu hỏi design, nhưng lại yêu cầu code vào Google Docs!? Ok Google, mình triển bốn phương tám hướng, xác nhận yêu cầu, lập luận giả định, và code ra chức năng đơn giản. 30 phút trôi qua, ảnh đưa cho mình 1 câu hỏi thứ 2 không liên quan gì đến câu 1. Câu này hiển nhiên là 1 câu code, và nó rất khó. Mình khá bối rối, song trấn tĩnh lại vì với tổng thời gian 60 phút thì mình hẳn là còn 30 phút nữa cho câu này. Ok Google, triển phương hướng, giả định lập luận, etc.. Và khi hết 5 phút sau thì anh ấy tỏ vẻ sốt ruột và nói: “Có lẽ bạn nên nhanh lên và code ra 1 cái gì đó, sẽ tốt hơn là không code gì” Dị nhỉ, mình còn tận 25 phút nữa cơ mà. Nhưng khi người phỏng vấn đã giục thì mình quyết định làm theo lời anh ấy. Trong 5-10 phút nữa mình không code ra được, đơn giản vì kể cả lời giải đúng mình còn chưa nghĩ ra được luôn. Vòng đầu tiên kết thúc sau khoảng 50 phút khi anh ấy phải dành 5 phút sau cùng để nói chuyện kể về cuộc sống kỹ sư ở Google mùa Covid, WFH, etc. GOOGLER NHẦM NỘI DUNG PHỎNG VẤN !? Sau Onsite mình viết mail cho Sherry: Mình được đưa cho 2 câu hỏi yêu cầu code không mấy liên quan đến nhau Anh kỹ sư khá sốt ruột khi thời gian mới là 35-40 phút. Và bạn biết kết quả thế nào không? Đã có sai sót ở phía Google, và anh phỏng vấn đã nghĩ rằng đấy là 1 vòng Coding! Sherry confirm Sao mình có thể ngu ngốc khi nhận ra muộn thế cơ nhỉ? Lẽ ra mình phải từ chối làm bài từ khi thấy bất thường? Đã thế câu 2 lại là 1 câu rất khó (Vâng chính là câu Hard nói ở bên trên đấy ạ). Câu đấy khó đến mức xong xuôi rồi đi hỏi bạn bè vẫn nghĩ không ra. Tìm trên Wikipedia thì ra 1 cái công thức toán dài ngoằng ngoằng như con lươn. Thôi gọi là nhọ đi. Cuối cùng Sherry đã nói chuyện với Hiring Manager, họ quyết định sẽ xem tổng thể kết quả ra sao rồi mới quyết cho mình làm lại vòng System Design hay không. Nghĩa là vòng Coding Round kia vẫn tính. Nói thật là mình không vui vẻ chút nào. Mặc dù giao tiếp của mình có vấn đề khi không hỏi lại chính anh phỏng vấn, nhưng như thế này quả thật không công bằng với ứng viên và ảnh hưởng tâm lý khá nhiều. Kỳ cuối: Feedback từ Sherry, suy nghĩ của bản thân, góp ý của các kỹ sư Silicon Valley khác và kinh nghiệm rút ra.
- [Kinh nghiệm] Làm việc quản lý thực tập sinh tại Nhật
Xin giới thiệu qua bản thân là mình tốt nghiệp năm 2010, Đại học APU ở Kyushu, và có khoảng 6 năm hơn làm trong ngành tuyển dụng tại Nhật (trừ đi thời gian nghỉ sinh 2 bé và học MBA). Mình đã từng làm cho 3 công ty, trong đó có 2 công ty gaishikei là Adecco (recruiting assistant) và hiện tại là Hays Recruitment Japan (headhunter). Tuy nhiên công việc giúp mình trưởng thành rất nhiều khi mới tốt nghiệp lên Tokyo 10 năm trước là công việc quản lý thực tập sinh (TTS). Lúc đó, công việc của mình là phiên dịch tài liệu (Việt <-> Nhật); đến thăm các xí nghiệp định kỳ để xem tình hình thực tế TTS làm việc; hướng dẫn ôn thi chuyển giai đoạn; dịch giải quyết sự cố khi có các vấn đề như tai nạn, trộm cắp, cãi cọ v.v… Mình rèn được kỹ năng gì từ công việc quản lý Thực tập sinh? Bản thân mới ra trường, tiếng Nhật còn chưa đủ tốt nên lúc đầu mình gặp không ít khó khăn khi nghe hiểu và thông dịch. Tuy nhiên, do đây là công việc đòi hỏi giao tiếp nhiều nên mình cũng đã học hỏi và rèn được nhiều kỹ năng tốt. Ví dụ như sự năng động, khả năng ứng xử tốt hơn, khả năng phản ứng ngôn ngữ tốt hơn. Và hơn hết là hiểu biết của bản thân về cộng đồng TTS , những bạn có hoàn cảnh khác mình nhưng đều đang ở Nhật vì cùng một mục đích là làm việc chăm chỉ và tích góp cho một tương lai tốt đẹp hơn. Có những ngày mình thức dậy từ 5h sáng để ra sân bay đón các bạn TTS, nhưng mọi mệt mỏi tan biến hết khi nhìn thấy các em mới sang, vừa có chút lo lắng bỡ ngỡ lại vừa có chút phấn khởi mừng vui khi bắt đầu một công việc mới tại một đất nước mới. Cuộc sống của TTS tại Nhật Mọi người có thể nghe nhiều tin không tốt về các em TTS như trộm cắp, đánh nhau v.v… Nhưng khi tiếp xúc cùng các em ấy rồi mới thấy thương và đồng cảm, vì mỗi người đều có hoàn cảnh riêng. Phải xa nhà 3 năm, bươn chải nơi đất khách quê người là điều không hề dễ dàng. Cho dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa thì xuất phát điểm của họ là muốn sang Nhật kiếm tiền cho gia đình để có một cuộc sống, một tương lai tốt đẹp hơn. Có em đã từng oà khóc với mình và nói “Chị ơi em nhớ mẹ, nhớ nhà, nhớ các em của em quá! Phải hơn 2 năm nữa em mới được về!” Các bạn TTS để được sang Nhật là gia đình đã phải đóng rất nhiều tiền ở nhà, phải chấp nhận là ký hợp đồng ở Nhật 3 năm – trong thời gian này không được về nước. Tuy nhiên, sang đây rồi mới biết sống và kiếm tiền không hề đơn giản. Khó khăn đến bao nhiêu là tuỳ thuộc vào xí nghiệp và nội dung công việc các em làm. Mình đã từng ở cùng các em làm trong xưởng sản xuất linh kiện điện tử (ở Osaka), có người bị bệnh về da do hàng ngày tiếp xúc với bụi sắt bắn ra từ máy mài – mặc dù đã có mặt nạ bảo hộ (bác sĩ nói sẽ bị lâu năm không biết khi nào khỏi). Có các em làm ở xưởng chế biến xúc xích, thịt hun khói (Nagoya thì phải), hàng ngày phải trực tiếp tiếp xúc với thịt sống, và xung quanh nơi ở rất nhiều mùi hôi của gia súc; v.v… Có em đã từng oà khóc với mình và nói “Chị ơi em nhớ mẹ, nhớ nhà, nhớ các em của em quá! Phải hơn 2 năm nữa em mới được về!” Và lúc đấy mình cũng muốn khóc theo em ấy Mối quan hệ với công ty, nghiệp đoàn Các em TTS sang đây không hề tự do như DHS (du học sinh) hay người lao động bình thường, mà phải chịu sự quản lý của nghiệp đoàn. Lúc mình làm công việc này thì đa số các em không được tiếp xúc với internet hay điện thoại, hàng ngày chỉ được ở nhà hoặc đến công xưởng, không được lên tàu đi bất kỳ đâu khác cả. Thi thoảng tới thăm mình mua tặng vài món đồ nhỏ xinh ở 100 yên là các em ấy vui hết cỡ, hỏi han về thế giới bên ngoài ra sao, hay mượn điện thoại mình để vào mạng online, đọc tin tức. Vì sợ các em ham vui bỏ việc và trốn khỏi xí nghiệp trước khi hợp đồng 3 năm hết hạn nên mới có sự quản lý khắt khe như vậy, nhưng dù sao cá nhân mình vẫn thấy việc đó hơi xâm phạm quyền tự do con người. Sự khắt khe, quản lý nghiêm ngặt trong công việc cũng như những áp lực lâu dài từ các mối quan hệ con người, kể cả từ phía người nhà ở VN, cũng dẫn đến việc nhiều bạn bị căng thẳng thần kinh… Nhiều xí nghiệp của Nhật có các bác Nhật quản lý rất chất phác, phúc hậu và kiên nhẫn. Được làm việc với những người như vậy cũng là một cái may mắn của TTS. Tuy nhiên có những chủ lao động không đàng hoàng, quỵt lương, chửi mắng không coi trọng TTS nước ngoài và tìm cách đưa họ về nước ngay khi họ bị tai nạn lao động. Sự khắt khe, quản lý nghiêm ngặt trong công việc cũng như những áp lực lâu dài từ các mối quan hệ con người, kể cả từ phía người nhà ở VN, cũng dẫn đến việc nhiều bạn bị căng thẳng thần kinh hay tự sát để tự giải thoát. Mình may mắn không phải tiếp xúc với các chủ lao động như vậy nhưng thực tế là họ tồn tại rất nhiều và cũng có nhiều bi kịch của các TTS. Lời kết Công việc quản lý TTS hay phải làm việc muộn, kể cả ngày cuối tuần, địa điểm làm việc cũng thường không phải là trung tâm. Vì những lý do trên mà đây có thể không phải là công việc 人気 (được yêu thích) đối với các bạn sinh viên mới ra trường. Tuy nhiên, từ kinh nghiệm bản thân, mình thấy công việc đem lại những kiến thức, kỹ năng giao tiếp và trải nghiệm xã hội quý giá. Ngoài ra đây cũng là một công việc có tính chất cầu nối trực tiếp giữa người lao động VN và công ty Nhật, nên cảm giác đóng góp giúp đỡ trực tiếp cho người VN và doanh nghiệp Nhật rất rõ ràng. Điều mình trân trọng nhất khi làm công việc này là có thể tiếp xúc với công xưởng Nhật, tầng lớp lao động chân tay của Nhật bản, để thấy mặt tối cũng như mặt sáng của Nhật và nghề TTS. Những kỹ năng giao tiếp có được trong công việc này cũng giúp công việc sau này của mình thuận lợi hơn rất rất nhiều. Bạn nào mới tốt nghiệp có thể cân nhắc công việc này xem sao! Kinh nghiệm của mình là từ 10 năm trước nên có thể hiện tại đã có nhiều đổi khác. Các bạn nào đang hoặc đã từng làm công việc này thì hãy comment chia sẻ thêm kinh nghiệm nhé!
- Những nguyên tắc sống “nằm lòng” (Core Life Principles)
LỜI MỞ ĐẦU Năm ngoái, mình tình cờ xem một video của Ray Dalio trên YouTube – một nhà đầu tư nổi tiếng của Mỹ. Trong đó, ông chia sẻ rằng bí quyết thành công của mình xoay quanh việc thiết lập các principles (nguyên tắc, 原則) trong cuộc sống và công việc. Điều này đã để lại ấn tượng mạnh mẽ và khiến mình suy nghĩ về những nguyên tắc mà mình đã áp dụng trong việc ra quyết định từ trước đến nay, cũng như cách mình sẽ tiếp tục dùng chúng để đưa ra những quyết định trong tương lai. Mình tin rằng những principles này có thể hữu ích cho những bạn, đặc biệt là kohai (hậu bối), có hoàn cảnh tương tự mình: người nước ngoài làm việc tại Nhật, đang làm trái ngành học, v.v. Chính vì vậy, mình quyết định viết bài chia sẻ về các nguyên tắc này, với mong muốn chúng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho mọi người. Một chút thông tin về bản thân để các bạn có thêm bối cảnh khi đọc những chia sẻ tiếp theo. Hiện tại mình đang làm việc về AI tại Google Japan. Điều thú vị là mình không có nền tảng về IT – từ cấp 3 đến đại học, mình học Vật lý. Sau khi tốt nghiệp, mình làm quản lý tư vấn (management consulting) tại công ty SigmaXYZ, và sau 1,5 năm, mình chuyển sang làm kỹ sư IT tại Recruit. Mình đến Nhật vào năm 2007, học tiếng tại Osaka trong một năm, sau đó theo học đại học tại Đại học Tokyo trong bốn năm. Các nguyên tắc mình áp dụng đã giúp mình xây dựng được sự nghiệp tương đối ổn định, cho phép mình làm những công việc yêu thích và theo đuổi đam mê. Hy vọng rằng những nguyên tắc này cũng có thể mang lại lợi ích cho các bạn. Principle 1: Có Chính Kiến - Have Your Own Opinions Nguyên tắc đầu tiên và cũng là quan trọng nhất trong sự nghiệp của mình tại Nhật chính là: luôn có chính kiến và quan điểm riêng , không làm gì chỉ vì người khác nói nó tốt. Mình sẽ kể hai câu chuyện để minh họa. Câu chuyện 1: Quyết định học thạc sĩ hay đi làm Hồi năm 4 đại học, mình đứng trước một quyết định quan trọng: học tiếp lên thạc sĩ hay đi làm luôn. Khi đó mình đã thi đỗ vào thạc sĩ tại Todai, sẽ được nhận tiếp học bổng MEXT để đi học thêm 2 năm thạc sĩ. Các bạn cùng khoa năm đó gần 100 người thì ngoài mình ra đều học lên thạc sĩ. Gia đình, giáo sư trên lab và 99% những người mình hỏi xin ý kiến đều bảo là mình nên đi học: có học bổng rồi học thêm 2 năm nữa chỉ có lợi thôi chứ có mất gì đâu? Tuy nhiên sau nhiều trăn trở thì mình đã quyết định đi làm luôn vì sau gần 1 năm làm trên lab, mình nhận ra mình không hề thích việc nghiên cứu mà muốn làm những công việc mang tính ứng dụng, tạo ra giá trị trực tiếp cho nhiều người. Bởi vậy mình đã chọn đi làm management consulting với mong muốn được học thêm về business và tiếp xúc với nhiều ngành nghề khác nhau. Nhờ có quyết định này mà mình đã tiết kiệm được 2 năm quý giá trong lúc còn trẻ, dễ dàng học kiến thức mới những lĩnh vực mới. Nếu mình lựa chọn đi học lên thạc sĩ như được khuyên thì 2 năm đó có lẽ mình đã ngồi mài đũng quần trong phòng thí nghiệm, tự hỏi bản thân là mình đang làm cái gì. Câu chuyện 2: Chuyển từ tư vấn quản lý sang IT engineer Vào năm 2013, khi đó mình đi làm ở công ty consulting SigmaXYZ được gần 1 năm rưỡi và quyết định chuyển việc sang làm IT engineer. SigmaXYZ là môi trường rất tốt và mình cũng đã nhận được sự công nhận từ phía công ty (ví dụ: performance review kỳ đầu tiên được cao nhất trong các 同期, được lên pamphlet tuyển dụng của công ty). Tuy nhiên lúc đó mình nhận ra một cơ hội lớn hơn trong ngành IT: management consulting đã tạo ra cách mạng trong những năm 1980-2000 bằng việc đưa khoa học vào cách vận hành công ty. Tuy nhiên internet và IT mới chính là nguồn gốc của cuộc cách mạng tiếp theo, thay đổi hoàn toàn cách doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách hàng, đồng thời tạo ra những business model mới. Mình muốn đón con sóng IT đó nên muốn chuyển sang 1 công ty làm IT product là Recruit để học thêm về cách xây dựng sản phẩm dựa trên IT. Hồi đó trong những người mình hỏi thì trên 90% khuyên nên ở lại công ty cũ, vì ở Nhật rất kỳ thị những người chuyển việc. Khi nhảy việc nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển sự nghiệp sau này. Tuy nhiên đến thời điểm này thì mình đã có thể khẳng định được đó là lựa chọn đúng: các công ty công nghệ GAFA đã trở thành những công ty có giá trị vốn hoá lớn nhất thế giới, còn mình cũng nhờ đón được đúng trend nên đã có được công việc như mình mong muốn. Thông qua 2 câu chuyện này, mình muốn nói rằng khi bạn có những suy nghĩ khác với số đông, thì một điều hiển nhiên là số đông sẽ không đồng thuận với bạn. Thậm chí những người thân thiết của bạn cũng sẽ phản đối. Khi đó, hãy tự đặt các câu hỏi “tại sao” nhiều lần đối với những lựa chọn của bạn, và khi bạn trả lời được những câu hỏi đó, và tự cảm thấy hài lòng với câu trả lời của mình, thì hãy mạnh dạn đi theo con đường mà mình chọn. Ngược lại nếu bạn sống dựa trên những quyết định mà người khác nói cho bạn, thì rồi đến một lúc bạn có thể sẽ lạc lối, không biết mình đang làm việc này để làm gì, và muốn gì trong tương lai. Nhật Bản là đất nước có rất nhiều khuôn phép xã hội, nên một cách tự nhiên thì người nước ngoài ở Nhật như chúng ta cũng sẽ tuân thủ theo những định kiến đó vì “người nước ngoài thì làm sao hiểu Nhật bằng người Nhật”. Thế nhưng hãy dừng lại một chút, và nghĩ xem tại sao bạn lại làm như vậy, và hãy chỉ làm khi bạn đã hiểu tại sao. Nghĩ nhiều thì cũng sẽ rất mệt đó, nhưng nó sẽ mang lại nhiều lợi ích sau này Principle 2: Làm Việc Chăm Chỉ - Work Hard Hồi nhỏ đi học chắc hẳn phần lớn chúng ta đã được nghe bố mẹ, thầy cô ra rả vào đầu phải “chăm học”, “chăm làm” mới khá được. Rồi khi đi làm ở Nhật, nơi việc về trước sếp là một điều tối kỵ, và ánh đèn công sở sáng đến nửa đêm là chuyện hiển nhiên, thì nếu nghe mình nói thêm về việc phải “làm việc chăm chỉ” thì cũng chả có ích gì cho bạn phải không? Vâng, thế nhưng cái “work hard” mà mình muốn chia sẻ không phải là “work long hour”. Mình tạm chia nó thành 3 mục nhỏ như sau: Deliver 120% Wear many hats Improve efficiency DELIVER 120% Đừng chỉ hoàn thành công việc được giao. Hãy làm để đạt ít nhất 120% kỳ vọng của sếp. Mình sẽ kể cho các bạn 1 ví dụ cụ thể nhé. Hồi mình mới tốt nghiệp và đang trong giai đoạn thực tập 新卒研修 tại một công ty consulting, một trong những nội dung training là học lập trình Java trong vòng 1 tuần. Điều kiện hoàn thành phần training này là phải giải xong 4 bài tập lập trình. Ai xong bài nào thì giáo viên sẽ review xem đã đạt yêu cầu chưa. Sau ngày training đầu tiên và nhận bài tập về, mình thức luôn đến 4h sáng để hoàn thành cả 4 bài tập của cả phần training đó và sáng hôm sau nộp bài luôn, trong khi thời hạn nộp bài còn tận đến cuối tuần. Thời gian còn lại mình dùng để làm tutor cho các bạn cùng khóa (同期) gặp khó khăn khi giải các bài tập này, và được assign sớm vào project tiếp theo. Trong trường hợp này, yêu cầu của công ty đối với mình chỉ là hoàn thành phần training đúng hạn. Tuy nhiên, mình đã áp dụng principle trên và đặt ra mục tiêu là phải deliver sớm, cộng thêm vượt trên kỳ vọng bằng việc đi dạy cho các bạn cùng năm. Giá trị lớn nhất của việc deliver 120% đó là bạn sẽ nổi bật lên trong đám đông. Trong trường hợp mình, các partner và principal (=sếp to trong consulting) phụ trách tuyển dụng cho team họ đều theo dõi sát sao quá trình training để tuyển quân. Thế nên nhờ việc nổi bật so với những bạn cùng năm giúp mình được các sếp to để ý đến, và tạo cơ hội thuận lợi khi được assign project sau này. WEAR MANY HATS Đừng chỉ hoàn thành việc của mình. Hãy nghĩ xem bạn có thể nhận thêm được việc gì khác nữa. Hồi đi làm software engineer ở Recruit, yêu cầu của đối với engineer chỉ là viết code đúng tiến độ project và không có bug. Tuy nhiên mình luôn tìm xem có những project nào khác đang gặp vấn đề kỹ thuật khó và nhảy vào xung phong giải quyết giúp. Ví dụ hồi đó bên SUUMO (trang tìm nhà, thuê nhà lớn số 1 ở Nhật) có 1 dự án phát miễn phí vài nghìn kính xem VR cùng với tạp chí SUUMO để khách hàng có thể xem nhà qua app mà không cần đến tận nơi. MÌnh mặc dù không làm trong team SUUMO nhưng đã xung phong build prototype (lại là thức đêm làm vì ban ngày vẫn phải chạy project chính ), và deliver thành công dự án này. Dự án sau đó được nhận giải innovation của toàn tập đoàn Recruit (nhưng lúc đó mình nghỉ Recruit rồi nên cũng không xơ múi được gì). Việc nhận thêm những công việc không phải của mình sẽ giúp các bạn có được những kỹ năng, góc nhìn mà những người chỉ có làm việc được giao không thể nào có được. Ví dụ, các bạn software engineer đừng chỉ ngồi code xong phần việc được giao, mà hãy nghĩ xem sản phẩm mình làm có thể cải thiện được gì và đề xuất với product owner/ project manager. Từ đó các bạn có được mạng lưới quan hệ rộng hơn trong công ty, và khi có những dự án thú vị, công việc thú vị người ta sẽ tự tìm đến bạn. Một “tác dụng phụ” thú vị khi chủ động lấy thêm việc về đó là sếp hoặc sempai sẽ thấy họ không cần phải nghĩ việc cho bạn làm. Thế nên bạn có thể chủ động lấy những công việc mình thích về làm, và chủ động tránh những thứ không thích. Ví dụ như suốt thời mới đi làm (新人), mình không bao giờ phải tổ chức một cái nomikai nào cả. Sếp và sempai thấy mình đủ bận rồi nên sẽ giao mấy việc này cho mấy bạn 新人 khác vì như thế họ sẽ đỡ phải “nghĩ việc” cho các bạn đó . IMPROVE EFFICIENCY Đừng chỉ hoàn thành công việc. Hãy nghĩ xem lần sau bạn có thể làm sao để hiệu quả hơn. Phần lớn công việc của chúng ta sẽ có sự lặp lại. Đặc biệt là với các bạn mới đi làm, hiếm khi nào bạn chỉ làm 1 task đúng một lần, mà sau này sẽ phải làm những task tương tự nhiều lần nữa. Bởi vậy mỗi khi làm xong 1 task được giao, các bạn hãy nghĩ lại xem nếu làm lại thì các bạn sẽ làm sao để nó hiệu quả hơn, tốn ít thời gian hơn. Principle 3: Làm việc thông minh - Work Smart Cho dù bạn có chăm đến đâu, sức khỏe phi phàm đến đâu thì thời gian của chúng ta cũng chỉ có 24h/ngày, và ngoài làm việc ra thì còn rất nhiều thứ quan trọng khác chúng ta cần dành thời gian. Bởi vậy việc tăng hiệu quả làm việc và tạo ra nhiều impact hơn trong cùng một thời gian làm việc sẽ đóng vai trò sống còn trong việc phát triển sự nghiệp khi các bạn đi làm trên 5 năm. Hẹn gặp lại các bạn trong bài viết lần sau.
- [REVIEW] Thẻ tín dụng, ngân hàng và các ứng dụng tín dụng tiêu dùng tại Nhật
Thấy có bạn review về thẻ tín dụng của ngân hàng SMBC mà thấy thông tin ít quá nên tiện mình review thêm vài loại. 1. Thẻ tín dụng tại Nhật 1.1 Những thẻ tín dụng đang sở hữu – Rakuten Premium card (Visa) – Amazon Credit card (Master) – Zozo Credit card (Master) 1.2 Những đơn vị phát hành thẻ đã từng trượt – UFJ – SMBC – Mizuho – Aeon 1.3 Đánh giá – Đăng ký tại các trung tâm thương mại hay thẻ Rakuten thì rất dễ đăng ký. Bạn mình là tu nghiệp sinh mà còn đăng ký được 2-3 cái thẻ tín dụng ở các trung tâm thương mại. Thẻ Rakuten mình đăng ký khi còn là sinh viên, báo đỗ luôn sau có vài tiếng. – Khó nhất là thẻ tín dụng của các ngân hàng, mình đi làm và hạn mức cả thẻ đang dùng khá cao rồi mà vẫn trượt. – Còn 1 điều được khuyên khi đăng ký thì không nên đăng ký 1 lúc 2~4 đơn vị phát hành thẻ, vì đây là hành vi bị đánh giá là high-risk. – Muốn biết có đang ở tình trạng khó đăng ký thì có thể check CIC. Phí 1sen trả qua thẻ tín dụng. – Rakuten card mình dùng từ thẻ miễn phí tới hiện tại nâng lên thẻ gần như cao nhất (sau thẻ black và business). Thẻ level càng cao thì độ bảo mật càng cao, hồi mình dùng thẻ Gold với mức tiêu vẫn vậy mà qua thẻ Premium bị lock liên tục, 1 tháng cỡ 2-3 lần phải gọi lên center để unlock hay nhờ họ setting thời gian mình không bị lock. Có email tạm thời thông báo ngày hôm trước tiêu gì, đây vẫn chưa phải là chính thức nên nếu bên bán hàng chưa hoàn thành thủ tục thì bạn chưa phải trả tiền đâu. Có 1 cái email khác nữa thông báo thì chính thức phải trả tiền những khoản ghi trong đó. – Rakuten card nâng hạn mức (継続) cũng khá khó, mỗi lần nâng cách nhau 6 tháng. Mới đăng ký thẻ miễn phí thì hạn mức 10man/1 tháng. Còn nâng hạn mức tạm thời (一時) 2 tháng thì cũng dễ. – Amazon card thì thuộc SMBC, chỉ có mỗi Master và mới thì được 20man/1 tháng. Mình thích nhất là nâng hạn mức cực dễ. Mình mới dùng được tầm 5-6 tháng mà đã có thể nâng hạn mức tạm thời gấp 5-6 lần rồi. Độ bảo mật thì mình đánh giá bình thường, mãi sau này mình tiêu ác quá thì mới bật chế độ lock. Được cái nếu cài app SMBC (app ngân hàng nhé) thì tiêu gì sẽ notification lên luôn và có cả email về mail đăng ký nữa. Cái này real-time, không phải đợi tới khi lên hệ thống mới notification đâu. – Zozo card thì đăng ký cũng dễ, còn tự nâng hạn mức hộ mình cơ. Mới đăng ký được luôn 30man. – Để ý thì sẽ thấy cả 3 thẻ mình đang dùng đều thuộc đơn vị phát hành thẻ là sàn thương mại điện tử. Các bạn hay mua sắm thì chắc không thể thiếu 3 loại này rồi. Tích point siêu nhiều. – UFJ, SMBC, Mizuho thì mình trượt tới mức ngỡ ngàng luôn. – Aeon bị trượt rất ngớ ngẩn là do đợt đó sim mình dùng Rakuten, sóng khá yếu. Họ gọi cho mình để xác nhận không được nên đánh trượt. Mình để hẳn điện thoại trước mặt mà nhận được cái là thư thoại, gọi lại thì báo bị đánh trượt do không liên lạc được. – Ai dùng iPhone từ 8 trở lên thì có thể nạp thẻ Pasmo qua Apple Pay (trước đây chỉ cho Master, hình như gần đây cho Visa rồi). 2. Ngân hàng tại Nhật 2.1 Những ngân hàng đang dùng – SMBC – UFJ – Mizuho – Rakuten 2.2 Đánh giá – SMBC dùng qua app cực thích, chuyển tiền trong SMBC thì có ngay lập tức dù là thứ 7 hay CN. Mình không chuyển ra ngoài nên không rõ khác bank có ngay không. Rút tiền sau 20h và thứ 7, CN thì mất phí. Nếu bạn đăng ký debit card thì thường sẽ chung luôn với thẻ ATM. Không mất phí thường niên. – UFJ nhớ là chỉ trong giờ hành chính thì ngay lập tức còn nếu giờ nghỉ hay thứ 7, CN thì đợi giờ làm việc mới chuyển. Không rõ thay đổi cơ chế chưa nữa. Rút tiền khá thích là sau 23h hay 24h mới mất phí. Trường hợp của UFJ có thể nhét tiền được cho SMBC và ngược lại. – Mizuho thì phí chuyển tiền khá cao, mình đăng ký chỉ bởi vì chủ nhà dùng Mizuho. – Rakuten có cho chuyển tiền khác ngân hàng miễn phí vài lần. Rakuten thì cũng nhận tiền được ngay luôn. Nhét tiền vào dưới 3man thì mất phí. Nhét tiền ở case Yucho, UFJ, Kombini 7/11,…khá đa dạng. 3. Các ứng dụng tín dụng tiêu dùng 3.1 Đang dùng – Mercari – Paidy 3.2 Đánh giá – Mercari dùng khá là tiện, hạn mức tối đa hiện tại mình thấy là 25 man. Đã có thông tin là hạn mức tối đa tới tận 50man, và tùy thông tin của bạn mà Mercari có thể hạ hạn mức của bạn xuống. Thanh toán trả hàng tháng khá dễ. – Paidy thì hạn mức bình thường 15man cho mua sắm, có thể trả làm 3 lần. Nên xác nhận thông tin để có thể trả qua tự động ngân hàng, nếu có việc không nhét tiền kịp lúc trừ tiền tự động thì sẽ chuyển khoản qua ngân hàng GMOあおぞらネット, còn nếu trả qua combini thì mất phí. Những năm trước Apple dùng Orico, mình thấy cực khó để có thể mua trả góp. Bây giờ Apple dùng qua Paidy, trả góp 24 lần với phí 0%, tăng cơ hội cho người nước ngoài mua trả góp. Sắp ra iPhone mới rồi anh/chị/em đăng ký Paidy thôi.
- Yankee Internship - Hình thức internship độc đáo tại Nhật
(*) Ở Nhật, “yankee” (ヤンキー) là từ dùng để chỉ những thiếu niên lêu lổng, phá phách. Thường những thanh niên này chỉ học tới hết cấp 2, 3. Do sự thiếu hụt về nhân lực, nhiều công ty Nhật đã và đang mở rộng cả tuyển dụng với người đã có tuổi (tuyển dụng sau khi về hưu); phụ nữ (chuyện vợ chồng cùng đi làm toàn thời gian đã trở nên phổ biến hơn, trong khi trước đây phụ nữ thường ở nhà nội trợ là chính); người nước ngoài v..v. Thêm vào đó là tuyển dụng những người chỉ có bằng cấp 2 hoặc cấp 3. Đây là câu chuyện về “Yankee internship” (dành cho các bạn mới chỉ tốt nghiệp cấp 2, cấp 3 đi kiếm việc) mà trước đây mình từng xem trong chương trình ガイアの夜明け, nay xin chia sẻ lại với mọi người nhé. Thị trường lao động tại Nhật Đi làm khi mới chỉ tốt nghiệp bậc phổ thông không phải là chuyện hiếm ở Nhật. Thị trường Nhật từng khá mở, đặc biệt trong thời kỳ bong bóng. Khi nhu cầu mở rộng các lĩnh vực kinh doanh tăng cao và nguồn cung việc làm cao hơn hẳn số người tìm việc thì tìm được việc làm là một điều khá dễ dàng. Nhưng khi thời kỳ bong bóng sụp đổ và cho đến gần đây thì để kiếm một công việc phù hợp tương đối khó. Đặc biệt với những ai tốt nghiệp phổ thông thì số lượng công việc rất ít, chủ yếu là công việc chân tay, công trường hay bảo vệ hướng dẫn chỉ đường… Công việc dạng này thường khá vất vả. Nhiều công việc kèm theo rủi ro cũng như những vấn đề xã hội, môi trường làm việc, nên không ít người muốn tìm việc khác ổn định, đỡ vất vả cũng như trang trải được cho gia đình tốt hơn. Yankee internship – một khái niệm đào tạo thực tập và tuyển dụng khá mới mẻ tại Nhật Để khai thác hiệu quả nguồn nhân lực từ những người chỉ tốt nghiệp phổ thông, một công ty đã tạo ra chương trình tư nhân đào tạo thực tập ngắn hạn dành cho các đối tượng này. Trên thực tế, những người tham gia chương trình không hẳn đều là “yankee.” Chương trình dành cho những ai tốt nghiệp trung học và muốn kiếm việc làm. Trong đó có người từng là “yankee”, thường đua xe máy nhưng đã kịp thức tỉnh khi suýt khiến bạn mình phải mất mạng trong một cuộc đua xe. Có người hoàn cảnh gia đình khó khăn, người thân đau ốm nên đành từ bỏ con đường đại học. Cũng có người do áp lực học hành thi cử, tự tử nhiều lần nhưng không thành… Công ty được thành lập bởi 1 cựu “yankee”, khi tốt nghiệp phổ thông anh muốn kiếm việc làm, nhưng phải đối mặt thực tế là số lượng việc làm cho đối tượng này lại rất ít. Không có nhiều lựa chọn, anh lập công ty để giúp mở rộng tương lai hơn cho những người giống mình. Bản thân anh đã có nhiều buổi nói chuyện chia sẻ ở các trung tâm thanh thiếu niên, trường học trên khắp nước Nhật. Một số đối tác tuyển dụng hoặc sử dụng dịch vụ của bên anh cũng là các công ty lớn có tiếng tại Nhật. Yankee internship bao gồm những gì? Quay trở lại một chút về chương trình này, khi tham gia các bạn sẽ sống chung một khu ký túc, mỗi người 1 phòng nhỏ. Mỗi ngày được phát 1000 yên tiền ăn, ai làm lĩnh vực ăn uống sẽ được miễn phí ăn uống, tiền gas điện nước wifi miễn phí. Trong thời gian thực tập, mỗi lần chốt được buổi họp với khách và chốt được hợp đồng thì sẽ được thưởng thêm cho mỗi đơn hàng. Chế độ nhìn chung khá tốt vì người làm được tham gia miễn phí, tiền chu cấp cũng được trích từ doanh thu của công ty này. Dù thế, cũng không hề đơn giản. Công việc ở đây chủ yếu là thay khách hàng làm sales qua điện thoại – hình thức này trước đây khá phổ biến ở Nhật nhưng hiện nay dần ít đi vì đa số các doanh nghiệp hoặc cửa hàng đều có đối tác quen thuộc. Một khi đã là đối tác quen thì họ sẽ rất ít khi thay đổi. Tuy vậy, nhìn chung vẫn có thể trao đổi và thuyết phục khách theo nhiều cách. Có người dễ dàng tìm được khách ngay, nhưng cũng có người dù gọi cả trăm cuộc/ ngày vẫn chẳng thể nào chốt đơn. Trong quá trình làm việc, người có kinh nghiệm sẽ trao đổi và chỉnh sửa câu từ khi nói chuyện với khách. Thay vì nói でも (nhưng mà) thì nên dùng 例えば (chẳng hạn như) và đưa ra ví dụ nếu đưa sản phẩm vào sẽ đem lại hiệu quả gì. Hay nếu khách hàng từ chối và nói không cần thì mình hỏi xem khách đang sử dụng dịch vụ gì và từ đó mới trao đổi tiếp. Sau một thời gian, các bạn sẽ đi phỏng vấn cũng như tham gia 説明会 (buổi giới thiệu) của các công ty. Sau 6 tháng thực tập có người nhận 内定 (thông báo tuyển dụng) và đi làm nhưng cũng có người rẽ theo hướng khác như tự kinh doanh. Nhìn chung điều thấy rõ nhất là sự trưởng thành trong lời nói giao tiếp của các học viên theo chương trình này. Kết Theo mình thấy, chương trình “Yankee internship” đã gợi mở ra một giải pháp khá hay cho bài toán thiếu hụt lao động của Nhật do già hóa dân số. Bên cạnh việc tự động hóa để giảm sự phụ thuộc vào con người thì giáo dục, đào tạo những nguồn nhân lực sẵn có cũng là một phương pháp hoàn toàn hiệu quả và nhân văn, lại rất bền vững.
- 4 điểm bất tiện khi làm ở công ty lớn tại Nhật
Các bạn muốn làm việc ở công ty lớn hay nhỏ ? Một chút lưu ý về định nghĩa Luật doanh nghiệp tại Nhật hiện chỉ quy định về định nghĩa công ty lớn , chứ không có định nghĩa cụ thể dành cho công ty vừa và nhỏ (中小企業)(*). Phần đông mọi người sẽ ngầm hiểu công ty lớn là những công ty có quy mô tương xứng, nổi tiếng trong ngành, chiếm thị phần cao v.v… và còn lại là công ty vừa và nhỏ. Lợi và bất lợi khi làm việc trong công ty lớn tại Nhật Hồi sinh viên đi làm thì mình toàn làm công ty bé, ra trường làm công ty lớn hơn mới thấy một trời khác biệt. Công ty lớn thường có lợi thế về lương, thưởng, chế độ phúc lợi, độ ổn định cao, cũng như danh tiếng tốt. Mức độ nổi tiếng và quy mô của công ty bạn làm cũng có thể ngay lập tức giúp bạn có được sự tín nhiệm từ những người bạn mới gặp. Bên cạnh đấy thì trong công ty to do đặc thù về vận hành, bạn có thể sẽ được làm những công việc không tồn tại ở các công ty nhỏ. Tuy nhiên, qua trải nghiệm của bản thân mình cũng đã rút ra ra 4 điểm bất tiện khi làm ở công ty lớn như sau: Chơi vơi giữa công ty , chẳng biết những người ngồi cách vài dãy bàn mình làm gì. Nhiều luật lệ phức tạp . Đơn cử như công ty mình phải dùng data center riêng; muốn có kết nối với thế giới phải đề nghị tạo ACL/firewall/… Để đảm bảo được an toàn thì phải kéo dài thời gian làm việc. Khi đi phỏng vấn thì sau rất nhiều vòng mới được nói chuyện với người sẽ làm việc cùng với mình . Điều này có thể là bất lợi vì người sếp trực tiếp ảnh hưởng lên cá nhân mình rất lớn. Công ty lớn nên mức độ cạnh tranh cũng nhiều hơn , có thể khó phát triển nếu không ngồi đúng vị trí. Lúc đó thì danh tiếng tốt nhưng thu nhập lại rất bèo. … Ngoài quy mô công ty, thì mình thấy đồng nghiệp và sếp trực tiếp là quan trọng nhất. Từ lúc đi làm trong công ty mình đã đổi team – đổi sếp 1 lần và thấy thay đổi nhiều (tất nhiên chính sách – chế độ chung thì vẫn vậy). Với bạn thì yếu tố quy mô công ty có quan trọng không? (*) Định nghĩa về công ty vừa và nhỏ theo luật DN Nhật Bản: Ngành sản xuất/xây dựng/vận tải: công ty có vốn điều lệ dưới 3 oku JPY (tương đương 50 tỷ VND), nhân viên dưới 300 người Ngành bán buôn: công ty có vốn điều lệ dưới 1 oku JPY (tương đương 17 tỷ VND), nhân viên dưới 100 người Ngành dịch vụ: công ty có vốn điều lệ dưới 5,000 vạn JPY (tương đương 8 tỷ VND), nhân viên dưới 100 người Ngành bán lẻ: công ty có vốn điều lệ dưới 5,000 vạn JPY (tương đương 8 tỷ VND), nhân viên dưới 50 người
- Cách viết 日報 tổng hợp công việc hàng ngày
Xin chào mọi người! Chắc hẳn khi đi làm ai cũng đã từng viết qua báo cáo các loại rồi nhỉ, nhưng không biết ở đây có ai đã từng vô cùng vật vã để viết được báo cáo ngày giống em không?! ? Vượt qua được quãng thời gian mới vào công ty cũng đã quen hơn rồi, nên hôm nay em xin mạnh dạn chia sẻ đến mọi người đặc biệt là các bạn mới đi làm một số kinh nghiệm nhé. Báo cáo công việc hàng ngày (日報) là bản tóm tắt tất cả những gì mà nhân viên đã làm được trong một ngày. Thật ra không hề có quy định bắt buộc, cụ thể nào về 日報 cho tất cả các công ty nhưng tùy thuộc vào mục đích mà người quản lý trực tiếp quyết định cho nhân viên mới viết báo cáo công việc hàng ngày. Qua đó giám sát tiến độ, hiệu suất làm việc của nhân viên mới, đưa ra nhận xét chuẩn xác cho từng trường hợp. Nó khá giống kèm việc 1-1, người quản lý theo dõi để định hướng điều chỉnh cách làm việc của nhân viên mới phù hợp với bộ phận, team cũng như định hướng phát triển lâu dài của công ty. Đó là sau này khi đã quen rồi mới suy nghĩ được như vậy thôi, còn đâu trong tuần đầu tiên thì 日報 chính xác là 日記 (nhật ký) của em đấy ạ! Em sai rồi! MỤC ĐÍCH Vâng, làm cái gì cũng cần phải có mục đích. Dù đơn giản nhưng đây thực sự là một việc khá tốn thời gian và công sức để duy trì mỗi ngày, nên cả trên cả dưới cần ngồi lại với nhau để cùng xác định mục đích chung thật tốt đẹp và rõ ràng . PHƯƠNG PHÁP Sau khi đã rõ mục đích, tiếp theo là thực hiện như thế nào. Cụ thể là trả lời cho các câu hỏi: Viết cái gì? Trình bày như thế nào? Nộp cho ai? Nộp khi nào? Người quản lý trực tiếp hay mentor chính là người đặt nền móng cho phần này. Vì suy cho cùng người đọc và ra quyết định cuối cùng của 日報 chính là quản lý trực tiếp . Thống nhất lại với nhân viên và bắt tay vào thực hiện thôi. TỰ TỔNG HỢP VÀ ĐÁNH GIÁ LẠI CÔNG VIỆC TRONG NGÀY Dù thống nhất như thế nào thì mẫu báo cáo cơ bản luôn có nội dung công việc trong ngày . Nhưng em đã nhầm việc tóm tắt nội dung công việc với việc thuật lại những công việc trong ngày, kể lại hôm nay em đã copy và đóng được 50 bộ tài liệu, nhận 10 cuộc điện thoại, gửi được 20 thư… Sau này em mới nhận ra, nội dung công việc hẳn là chỉ có nhân viên mới là mình chưa nắm kỹ thôi chứ xung quanh ai cũng rõ cả rồi. Tóm tắt nội dung công việc em ghi ngắn gọn, đơn giản lại mà tập trung chính vào phần tự đánh giá năng lực, hiệu suất bản thân; suy nghĩ của mình về nội dung cũng như các tình huống xảy ra trong công việc . Sau này khi xem lại những trang đầu, chính người viết cũng thấy được sự trưởng thành của mình trong công việc. Thêm một yếu tố nữa, em là nhân viên người nước ngoài trong công ty Nhật. Mặc dù có thể giao tiếp nhưng cũng lắm lúc “ông nói gà bà nói vịt”, ngôn từ bay tứ tung trong không khí thì cuối ngày em lại ngồi gom lại ghi vào 日報. Nhiều lúc cấp trên em cũng té ngửa khi sáng nói A thì chiều em ghi trong báo cáo là BCDXYZ, đến giờ có lúc vẫn còn như vậy nhưng sếp chịu không chịu thì chịu thôi. DUY TRÌ VÀ ĐẠT KẾT QUẢ Duy trì là sức mạnh của thói quen. Quản lý trực tiếp, mentor vừa phải hoàn thành công việc của mình vừa đánh giá, hỗ trợ dìu dắt nhân viên cấp dưới thông qua 日報. Nghĩ đến đó thôi thì em cũng phải cố gắng nắm bắt công việc thật nhanh và thể hiện sự tiến bộ từng ngày qua báo cáo này. Đến một ngày không phải viết báo cáo công việc hàng ngày nữa thì em cũng buồn lắm, vì đã phải vật vã với nhau cả năm nay. Nhưng khi đạt được mục đích đã đề ra và kết thúc 日報 cũng là lúc nhân viên mới thành công “tốt nghiệp” khóa huấn luyện công việc 1 kèm 1, từ nay đã có thể tự hoàn thành công việc của mình. Cuối cùng, em nghĩ rằng không chỉ nhân viên mới mà với các bạn vừa chuyển bộ phận, chuyển việc, chuyển ngành sang một môi trường mới thì báo cáo 日報 cũng sẽ phát huy tác dụng. Hy vọng chia sẻ của em phần nào đó giúp được các bạn nhân viên mới trong quá trình làm quen công việc và các anh chị quản lý, mentor cũng có thêm 1 cách khá hiệu quả để làm việc cùng các newbie nữa ạ
- Cách bản thân xử lý vấn đề tâm lý khi sống và làm việc một mình ở Nhật
Mình sang Nhật được 7 năm, 4 năm Đại học 3 năm đi làm. Trong 7 năm thì mình có 2 đợt bị vấn đề tâm lý ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng cuộc sống, đó là kì 2 năm nhất ĐH và lúc 新入社員研修. Ai cũng có lúc này lúc kia, nhưng khi tình trạng down mood kéo dài tầm 1 tháng trở lên thì mình coi đó là vấn đề thực sự. Mình xin chia sẻ 3 cách đã dùng để vượt qua những lúc này, mong rằng có thể giúp ích cho mọi người trong thời kỳ WFH/Covid này. Cả nhà có cách nào riêng của bản thân thì cùng share nhé! (Lưu ý là mình/cư dân mạng không phải bác sĩ hay được đào tạo chuyên môn về tâm lý trị liệu nên thông tin mình đưa ra chỉ mang tính tham khảo. Nếu bạn cảm thấy vấn đề của bản thân đang ảnh hưởng rõ rệt tới chất lượng cuộc sống (mất ngủ, chán ăn, không có động lực sống v.v…) Trong một thời gian dài, hãy tìm đến bác sĩ tâm lý trước khi nói chuyện với gia đình hay cố gắng tự giải quyết. Có thể gặp bác sĩ 1 buổi về bạn sẽ thấy ổn hơn, hoặc là muốn tiếp tục gặp để điều trị, tuỳ do bạn chọn). Qua nhiều chuyện thì mình học được là không nên tự gán bệnh cho bản thân quá mức. Thời đại Internet lên mạng search triệu chứng bệnh thì không thiếu. Theo chẩn đoán của bản thân thì mình bị trầm cảm, bipolar (rối loạn cưỡng cực), anxiety (lo lắng), panic disorder (rối loạn hoảng sợ), ung thư da (???). Nhưng rõ ràng: 1) bản thân không phải chuyên gia 2) khi đã tự gán cho mình cái mác bị vấn đề thì mình có thể sẽ khó thoát ra và có xu hướng tự hành động để cái vấn đề đó thành thật (self-fulfilling prophecy) Và 3) nếu đang trong lúc hoảng loạn/ trầm cảm thì chính mình không suy nghĩ rõ ràng được, nên kết luận của mình chưa chắc đã đúng. Coi như cái mình tìm thấy chỉ là giả thuyết hoặc thông tin tham khảo thôi, và mình phải phải hành động để xem giả thuyết có đúng hay không. Những cách mình đã dùng là: 1) Therapy Trường ĐH của mình có counselor miễn phí bằng tiếng Anh. Lúc mới qua, tiếng Nhật của mình không tốt và mình bị mất ngủ, nên mình book lịch gặp hàng tuần bằng cách gọi lên văn phòng trường. Mình đi gặp counselor tầm hơn 1 tháng, chỉ để nói chuyện hỏi han tình hình thôi. Qua một thời gian thì mình bớt mất ngủ nên cũng dừng. Sau đó khi gặp vấn đề khác thì mình đi gặp therapist (online, gặp mặt). Mình google “English counselor”, check bằng cấp của họ rồi đặt lịch và tới. Tuy nhiên, chỗ đó không được bảo hiểm nên đắt (6000y/buổi 45p), mình đi 1 buổi rồi dừng. Buổi đó gặp therapist mình khóc tu tu rồi đi về là nhìn ra giải pháp. 2) Tin người khác và tìm ai đó đáng tin để tâm sự Nói chuyện với bố mẹ, gia đình, bạn bè, và thật lòng chia sẻ mình đang gặp vấn đề. Nếu ai đó không nghe thì thôi, không phải lỗi của họ mà cũng không phải do mình, mình sẽ tìm người khác chia sẻ. Sẽ có ai đó vui vẻ lắng nghe và ở bên cạnh, quan trọng là phải đi tìm. Tuy nhiên, mình không dồn hết vấn đề của mình lên 1~2 người và bám vào họ như cái phao, mà mình chia sẻ bớt cho một vài người, để không nặng gánh cho họ và làm mối quan hệ tệ đi. Người đó cũng sẽ không giải quyết vấn đề cho mình được, nhưng việc nói ra thường giúp mình có cách nhìn khác nhẹ nhàng hơn. Thời gian WFH mình gọi cho nhà 2~3 lần/ngày. Gọi giờ ăn cơm để cùng ăn với nhau, xem tivi thời sự với nhau v.v… (Với mình cách này hiệu quả nhất) 3) Tự giáo dục bản thân Phòng bệnh còn hơn chữa bệnh đúng với cả tâm bệnh. Lúc đang bình thường không có vấn đề gì mình hay nghe podcast, đọc sách, tạp chí về tâm lý, tìm hiểu về CBT (cognitive behavioural therapy), v.v… Podcast trên iphone là miễn phí nên tội gì không nghe ~ Những podcast mình hay nghe là: You Are Not So Smart The Knowledge Project Rationally Speaking: exploring the borderlands between reason & nonsense. Tạp chí: psychologytoday.com (dễ đọc) Với mình vấn đề tâm lý không phải là chỗ đo độ cứng cỏi hay chỉ cần rèn luyện bản lĩnh là vượt qua được. Phải coi nó như một con sông chảy xiết trong bóng tối. Nếu cắm đầu đi qua hên thì lành lặn, xui thì chết và quan trọng là dại. Vậy nên biết cách đóng thuyền, biết cách dùng đèn pin, biết cách bơi sải, mặc áo phao v.v… thì mới vượt qua được. Gặp bác sĩ giống như đi gặp thợ đóng thuyền, họ sẽ chỉ cho mình cách đóng thuyền như thế nào, còn việc vượt qua tất nhiên là do bản thân mình rồi. Chúc mọi người vượt qua được thời kì này nha!
- Tìm việc tại Nhật: tiếng Anh hay tiếng Nhật quan trọng hơn?
1. Japanese isn’t essential. English is everything. (Tiếng Nhật không quan trọng, tiếng Anh mới là tất cả) Nhân một bài báo đăng trên tờ Reuters về câu chuyện cựu Bộ trưởng truyền thông Afghanistan không thể tìm việc ở Đức và đang nhận công việc giao hàng để kiếm sống qua ngày (1), mình xin phép luận bàn một chút về lối suy nghĩ gần đây của rất nhiều bạn sinh viên đang ở Nhật hoặc muốn sang Nhật làm việc. Đó là “Japanese isn’t essential. English is everything.” (Tạm dịch: “Tiếng Nhật không cần thiết. Tiếng Anh mới là tất cả.”) 2.The language is the most important part. (Ngôn ngữ là điều quan trọng nhất) Ông Sayed Sadaat, cựu Bộ trưởng truyền thông Afghanistan, về mặt lý lịch chắc chắn sẽ khiến không ít nhà tuyển dụng choáng ngợp: Kỹ năng quản lý (2 năm bộ trưởng, nhiều năm điều hành doanh nghiệp ở Anh và Trung Đông) Kỹ năng chuyên môn (23 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực viễn thông, có bằng Master từ Đại học Oxford) Tiếng Anh bản xứ (quốc tịch Anh) Thế nhưng từ khi chuyển đến sống ở Leipzig (Đức), ông chỉ có thể tìm được công việc chuyển phát và đang theo học tiếng Đức bốn tiếng mỗi ngày. Ông trả lời phỏng vấn Reuters như sau: “The language (German) is the most important part,” said Sadaat. Tạm dịch: “Ngôn ngữ (Tiếng Đức) là yếu tố quan trọng nhất.” Có lẽ nhiều bạn sẽ bất ngờ với câu chuyện này, cho rằng ông Sayed Sadaat là một người không có năng lực nên mới không tìm được việc ở Đức với vốn tiếng Anh của mình. Tuy nhiên, với bản lý lịch như trên cùng tinh thần học hỏi dù tuổi đã cao (49 tuổi), mình không tin ông Sayed Sadaat là một người kém cỏi một tý nào. Nếu chịu khó tìm hiểu kỹ về văn hóa, lịch sử… bạn sẽ thấy rằng đối với các nước phát triển có bề dày văn hóa lâu đời thì ngôn ngữ chính là một niềm tự hào dân tộc . Việc truyền bá văn hóa, ngôn ngữ được coi là quốc sách; người Đức có Viện Goethe-Institut, người Pháp có Institut Français với mục đích phổ cập ngôn ngữ nước mình ra toàn thế giới. Chính phủ Đức thậm chí còn miễn học phí cho chương trình Đại học bằng tiếng Đức, cũng như yêu cầu chứng chỉ tiếng Đức tối thiểu khi cấp visa du học. Vậy nên, kể cả khi làm việc ở những nước có trình độ tiếng Anh cao như Liên minh Châu Âu, yêu cầu về ngôn ngữ bản địa là một trong những yếu tố thiết yếu khi đi tìm việc. 3. English is essential, but it isn’t everything. (Tiếng Anh là quan trọng, nhưng không phải duy nhất) Quay lại câu chuyện ở Nhật, một nước có trình độ tiếng Anh còn thấp hơn cả Việt Nam (theo khảo sát EF 2019), mình lấy làm lạ tại sao có nhiều bạn đang suy nghĩ chỉ cần tiếng Anh là có thể thành công ở Nhật, lẩn tránh việc học tiếng Nhật. Đúng là những năm gần đây, có rất nhiều chương trình Đại học ở Nhật mở khóa học tiếng Anh bao gồm cả Đại học quốc tế tại Nhật và các Đại học truyền thống. Tuy nhiên, các bạn không nên đánh đồng việc mở rộng “Customer Base” (cơ sở khách hàng) của mảng giáo dục tại Nhật với nhu cầu của thị trường lao động Nhật Bản. Theo số liệu METI (Bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghiệp Nhật Bản) năm 2020 (3), thị trường lao động tại Nhật có thể chia thành hai khối doanh nghiệp: Doanh nghiệp thuần Nhật (Nikkei), chiếm 99.24% thị trường. Doanh nghiệp vốn nước ngoài (Gaishikei), chiếm 0.76% thị trường. Trước hết, mình sẽ nói về khối Nikkei. Như hình minh họa của bài được đăng trên Hướng dẫn xin việc cho du học sinh của Jasso (Japan Student Services Organization) (ảnh dưới), kể cả bạn có giỏi tiếng Anh đến mấy thì chỉ có 2.9% doanh nghiệp sẵn sàng nhận ứng viên có trình độ tiếng Nhật N3 trở xuống. Nếu bạn nỗ lực hơn và lấy được N2, con số này sẽ là 11.1% , vẫn chỉ là một con số vô cùng khiêm tốn trong khối Nikkei. Còn khối Gaishikei thì sao? Mình nghĩ rằng khá nhiều bạn có lối suy nghĩ “English only” (chỉ có tiếng Anh) đang kỳ vọng vào khối doanh nghiệp này. Tuy vậy, bạn nên nhớ khối Gaishikei cũng chỉ chiếm 0.76% thị trường lao động , và yêu cầu của khối này với trình độ tiếng Nhật cũng không hề thấp. Theo khảo sát của Bộ Kinh Tế, Thương Mại và Công Nghiệp Nhật Bản năm 2020, 64.9% doanh nghiệp Gaishikei từ chối tuyển ứng viên người nước ngoài vì lý do không đủ trình độ tiếng Nhật. Như vậy, nếu bạn là một sinh viên vừa ra trường, cực kỳ giỏi tiếng Anh, trình độ tiếng Nhật dưới N3, tỷ lệ doanh nghiệp ở Nhật bao gồm cả Nikkei và Gaishikei sẽ tuyển bạn vào làm là 3.1%. Đấy là còn chưa nói đến một phần không nhỏ trong số 3.1% này sẽ dành cho các ngành yêu cầu trình độ chuyên môn cao như Developer, Researcher (đa phần có bằng tiến sĩ),.. Ngoài ra, nếu mình không nhắc có khi các bạn lại quên mất rằng cuộc đua tìm việc tại Nhật đâu chỉ có mỗi du học sinh Việt Nam chúng ta hay Đông Á đâu chứ. Chỉ riêng trong khối Đông Nam Á đã có các bạn Singapore và Philippines sử dụng tiếng Anh từ khi mới ra đời, cùng vô số đối thủ mang các quốc tịch khác có tiếng Anh lợi thế hơn bạn. Vậy mẩu bánh bé ti ti 3.1% của các bạn Việt Nam vừa tốt nghiệp Đại học, Thạc sĩ chỉ có tiếng Anh lại càng bé nữa. Để cho bạn dễ hình dung con số này bé thế nào, mình cho bạn thêm một con số nữa nhé. Đó là tỷ lệ người có thu nhập một năm hơn 10,000,000 yên năm 2019 là 4.5%. Có nghĩa là về mặt thống kê, khả năng kiếm được “thu nhập mơ ước” 10,000,000 yên “nếu” bạn được chấp nhận vào thị trường lao động Nhật Bản còn cao hơn khả năng một bạn chỉ có N3 được nhận làm nhân viên chính thức ở Nhật. 4. Japanese is quintessential (Tiếng Nhật là vô cùng quan trọng) Cá nhân mình dù khi tốt nghiệp đủ trình độ tiếng Nhật và tiếng Anh để ứng tuyển vào 79.6% thị trường cũng thấy rằng game này không hề dễ. Vậy nên, nếu bạn không phải là một tài năng trong một lĩnh vực đặc thù hay là một nhà nghiên cứu nhiều thành tựu, ”Japanese is quintessential” để làm việc và thành công ở Nhật, điều này đúng với 96.9% người nước ngoài khi tìm việc ở Nhật. Tuy vậy, nếu bạn là một người, chơi game gì cũng phải chơi ở Hell Mode, bạn có thể tiếp tục thử thách với mạng chơi của mình, nhưng Life Game chỉ có một mạng, không hồi sinh, reload hay replay được đâu nha. Link tham khảo cho bài viết: (1) https://www.reuters.com/…/afghan-minister-who-became…/ (2) https://www.jasso.go.jp/en/ryugaku/after_study_j/job/__icsFiles/afieldfile/2022/02/21/guide_2023_all_e_1.pdf (3) https://www.meti.go.jp/…/result_54/pdf/2020gaikyou-k.pdf
- Bàn về chuyện trình độ tiếng Nhật khi đi phỏng vấn tại công ty Nhật
(Đây là trích nguyên bản comment của mình từ bài viết [Góc hỏi kinh nghiệm luyện kaiwa tiếng Nhật] trên group “Đi làm tại Nhật – VPJ” ) “Anh từng là người dạy các lớp Kaiwa và cũng từng khá “soi xét” những cái như là phát âm, rồi ngữ điệu,… Nhưng khi được trải nhiều hơn anh thấy, những kiến thức ở lớp kaiwa em học thực sự không mang lại nhiều điểm cộng nhiều bằng nội dung em truyền đạt. Một người có thể nói không hay, phát âm không chuẩn nhưng lập luận chắc chắn, rõ ràng, đúng trọng tâm thì sẽ toả sáng lấp lánh ánh sao. Ví dụ tình huống: Câu hỏi: Bạn nhận thấy mình có điểm gì phù hợp với vị trí sales cho công ty tôi. Người nói văn hoa màu mè nhưng lan man: “Từ lúc sinh viên tôi đã thích được làm việc abc xyz. Tôi thấy mình có những điểm mạnh như năng động, nhiệt tình, chịu khó,… Dù bất cứ khó khăn nào tôi cũng sẽ cố gắng hết sức mình,… Bla bla bla…” (Đây là 1 câu trả lời khá điển hình. Nếu em có search một vài câu trả lời mẫu sẽ dễ dàng bắt gặp và tất nhiên nếu công ty đó thiếu người, hoặc họ thấy em có tố chất khác phù hợp với công ty thì họ mới nhận, còn câu trả lời này không giúp em nổi bật so với các ứng viên khác) Vậy nên nói gì khi đi phỏng vấn? Người nói có trọng tâm, logic: Đối với vị trí sales của quý công ty, tôi nhận thấy một nhân sự nên có một số tố chất như sau: 1. Khả năng suy nghĩ logic 2. Kiến thức liên quan đến công việc 3. Khả năng quan sát Bản thân tôi cảm thấy mình phù hợp vì: Tôi đã tự rèn luyện khả năng logical thinking từ […] và nó đã được áp dụng vào [...]. Nhờ đó, tôi đã đạt được một số kết quả […]. Để trở thành salesman cho quý công ty, mặc dù tôi học chuyên ngành abc xyz nhưng tự bản thân tôi đã tự tìm hiểu các kiến thức về sales B2B (B2C) theo các mô hình abc, xyz,… và tôi thấy bản thân mình nhận được yaruki (động lực) khi theo đuổi công việc này. Ngoài ra, tôi đã tìm hiểu về sản phẩm, thị trường, các đối thủ, chiến lược kinh doanh, vision của quý công ty. Những nội dung đấy làm tôi cảm thấy rất hứng thú. Nghề sales không đơn thuần là bán hàng mà là cung cấp giải pháp để giải quyết các vấn đề của khách. Để làm được thế thì 観察力 (năng lực quan sát) là rất quan trọng. Tôi đã abc xyz để cải thiện khả năng quan sát của bản thân. Ví dụ cụ thể […]. Đối với quý công ty, tôi nghĩ khả năng này có thể áp dụng cho việc […]. ======= Tất cả những câu trên đây anh type ra, anh tin chắc một bạn học đến tầm ngữ pháp N2 đều có thể chuyển ngữ được sang tiếng Nhật. Một lời khuyên nữa khi giao tiếp là đừng cố làm cái gì quá với năng lực của mình. Nếu em không tự tin với kính ngữ thì hãy nói câu thể lịch sự. Nếu em không tự tin với các ngữ pháp phức tạp thì hãy nói thật tốt và rõ ràng những câu ngắn gọn.” Chúc mọi người phỏng vấn suôn sẻ và thành công!
- [Critical Thinking] Lối suy nghĩ đặt giả thuyết (Hypothetical Thinking)
Chào cả nhà. Trước tiên mình muốn giới thiệu tổng thể về Critical Thinking, mọi người có thể tham khảo tiếng Nhật tại: https://kotobank.jp/word/クリティカル・シンキング-2099758 hoặc tiếng Anh tại: https://www.indeed.com/…/caree…/critical-thinking-skills (mỗi nguồn lại có cách liệt kê skills set khác nhau) Tổng thể này hơi to và đa dạng, nên trong bài viết lần này mình chỉ chia sẻ về Lối suy nghĩ đặt giả thuyết. 1. Phân loại giả thuyết theo mục đích Giả thuyết cho kết luận Khác với vồ vập đốt cháy giai đoạn “jump to conclusion” thì ở mục này, chúng ta đặt ra giả thuyết rồi kiểm chứng, sau đó mới kết luận. Cách này sử dụng “sự tinh tế”, kinh nghiệm, v.v. để đẩy nhanh quá trình thay vì đi mân mê dò đường theo mép tường. Một ví dụ có lẽ ai cũng đã từng trải qua đó là trong Toán học, nhẩm nghiệm rồi chứng minh nó là nghiệm (trong một số trường hợp có chứng minh nó là duy nhất). Giả thuyết để giải quyết các câu hỏi 5W2H, lấp nhưng mảng còn trống hổng. 2. Tiền đề đặt giả thuyết: Thông tin khách quan (thường thức), những điều quan sát được. Ví dụ là giai thoại Isaac Newton bị quả táo rơi trúng đầu hay Archimedes tắm tràn nước. Tri thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực liên quan. Mỗi người thuộc lĩnh vực khác nhau có kinh nghiệm khác nhau nên cũng có thể đặt giả thuyết khác nhau. Nếu team có thành phần đa dạng để tham khảo nhiều giả thuyết, có thể tham khảo căn cứ để định hướng kiểm chứng.Ví dụ về kiểu đặt giả thuyết này có lẽ thường gặp ở Risk Assessment (Đánh giá rủi ro), điển hình là ở nhà máy hay công trường xây dựng, khi thao tác với các máy móc hạng nặng có thể gây tai nạn khi bất cẩn. Dựa vào kinh nghiệm mà các thành viên đưa ra giả thuyết những tai nạn như thế nào có thể xảy ra, và do đó, hội đồng quyết định phương án kiểm soát tương ứng.Mặt khác, “kinh nghiệm” hay “thường thức” có thể gây ra định kiến sai khác với hiện thực của trường hợp cụ thể. Vấn đề này sẽ được bàn luận ở phần khác sau này. 3. Các technique trong quy trình đặt giả thuyết Công thức Toyota: Đặt câu hỏi “Tại sao” lặp đi lặp lại 5 lần (có thể ít hơn hay nhiều hơn cho đến khi lần tới gốc rễ của vấn đề) Tham khảo tại video ngắn sau: https://www.youtube.com/watch?v=SrlYkx41wEE Thay đổi góc nhìn, đặt địa vị khác (thường gặp trong báo chí). Có thể bắt gặp ví dụ về kiểu suy nghĩ đặt mình vào địa vị người khác trong các logic riddle của Ted-Ed. Vốn dĩ là mỗi người có mục đích, mục tiêu và tài nguyên khác nhau nên cách tiếp cận cùng một vấn đề sẽ khác nhau. Các bạn có thể theo dõi thêm video sau “Can you solve the pirate riddle?” – Alex Gendler để hiểu thêm nhé: https://www.youtube.com/watch?v=Mc6VA7Q1vXQ Đặt giả thuyết cho tương lai dựa trên các dữ liệu quá khứ. Có lẽ mọi người đều từng trải hành động này. Đơn cử như tình cờ phát hiện 1 lỗi trong hệ thống, thì chúng ta cũng dự lượng cùng 1 lỗi này sẽ tiếp tục phát sinh trong tương lai, do đó cần phải đặt ra phương pháp vá lỗi. 4. Trau chuốt lại giả thuyết Tiếp tục đặt câu hỏi, so sánh với thông tin mới và lần lại về khởi điểm xem giả thuyết này có phục vụ giải quyết câu hỏi ban đầu của chúng ta hay không. Tránh đi lạc sang địa bàn hoàn toàn khác, sau khi rẽ nhiều lần. 5. Kiểm chứng Check tất cả các bước trung gian không thấy lỗi nhưng kết quả kiểm chứng không như ý muốn… Lập kế hoạch kiểm chứng (5W2H), đặc biệt là phương pháp (How) có khả thi hay không? Phân tích định tính và định lượng Đánh giá và tái cấu trúc giả thuyết Đối với các bạn viết code có lẽ cũng trải qua nhiều trường hợp không có bug khi compile, nhưng kết quả không chạy đúng ý muốn. Xây dựng prototype ở thế giới thực hay kế hoạch kinh doanh cũng vậy, check tất cả các bước trung gian không thấy lỗi nhưng kết quả kiểm chứng không như ý muốn thì cũng phải lần mò cấu trúc lại mô hình dựa trên các thông tin (data) mới được bổ sung.Ví dụ về R&D sản phẩm hỗ trợ 1 động tác của người lao động. Sản phẩm thực hiện được đúng chức năng theo thiết kế, nhưng khi mời chào thì đối tượng được nhắm đến lại không có hứng thú. Hỏi ra thì lý do là cồng kềnh và đắt đỏ, trong khi tỷ lệ thời lượng thao tác được tự động hóa chỉ chiếm một lượng thời gian tương đối nhỏ so với tổng thể công việc của họ, nên cost performance không được như ý. Do đó, trong marketing sản phẩm, có framework 4P: Product, Price, Place, Promotion; 3C: Company, Competitor, Customer;… Bản thân mình làm R&D và cũng mới lững thững học sơ cua về sản phẩm hóa, cũng bị choáng ngợp với nhiều yếu tố chưa từng tính đến, nên bài viết này mang tính chia sẻ thông tin cùng nhau học thêm, hơn là chia sẻ kinh nghiệm, mong là có giá trị tham khảo. Nếu mọi người có nguồn nào chia sẻ nữa thì chia sẻ cho mình học hỏi thêm với.
![[Kinh nghiệm] Review phỏng vấn Google mùa Covid (2021)_Phần cuối](https://static.wixstatic.com/media/nsplsh_2d8f787e41cf4f38a3099736a0c7c6d2~mv2.jpg/v1/fit/w_176,h_124,q_80,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/nsplsh_2d8f787e41cf4f38a3099736a0c7c6d2~mv2.jpg)
![[Kinh nghiệm] Review phỏng vấn Google mùa Covid (2021) – Phần 2: Onsite](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_fc5e2c73c8804147b0fd89699d513114~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_fc5e2c73c8804147b0fd89699d513114~mv2.png)
![[Kinh nghiệm] Làm việc quản lý thực tập sinh tại Nhật](https://static.wixstatic.com/media/11062b_6352ccf4d9a8408b9dd88f9efabe9199~mv2.jpg/v1/fit/w_176,h_124,q_80,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/11062b_6352ccf4d9a8408b9dd88f9efabe9199~mv2.jpg)

![[REVIEW] Thẻ tín dụng, ngân hàng và các ứng dụng tín dụng tiêu dùng tại Nhật](https://static.wixstatic.com/media/11062b_b278ea520c04495d871471494898216e~mv2.jpeg/v1/fit/w_176,h_124,q_80,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/11062b_b278ea520c04495d871471494898216e~mv2.jpeg)






![[Critical Thinking] Lối suy nghĩ đặt giả thuyết (Hypothetical Thinking)](https://static.wixstatic.com/media/11062b_ddf65ff33c58495eaec63bb12cd022eb~mv2.jpg/v1/fit/w_176,h_124,q_80,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/11062b_ddf65ff33c58495eaec63bb12cd022eb~mv2.jpg)