Search Results
Search this site
Tìm thấy 48 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống
- Rèn luyện năng lực ngôn ngữ (Phần 2)
Trước khi bắt đầu, bạn hãy nghĩ về câu hỏi sau: Gần đây bạn có gặp phải tình huống khó khăn nào khi diễn đạt bằng lời không? Mục đích của câu hỏi này là khi đọc đến cuối bài bạn có thể phân tích xem lý do mình gặp khó khăn là gì. Hãy nghĩ về câu hỏi này trong suốt quá trình đọc bài nhé. Còn giờ thì quay trở lại bài nào. Theo bạn, bản chất của ngôn ngữ là gì? Chúng ta chắc ai cũng biết ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp và truyền đạt suy nghĩ, kiến thức, nội dung… Mình muốn giới thiệu một khái niệm: Ngôn ngữ hóa (mình xin tạm giữ nguyên theo từ gốc tiếng Nhật vì không biết phải dùng từ tiếng Việt nào để diễn đạt đúng ý nghĩa nhất). Ngôn ngữ hóa là quá trình chuyển hóa những suy nghĩ trong đầu thành những lời nói, chữ viết mà người khác có thể dễ dàng hiểu được, sau đó truyền tải đến đối phương. Quá trình ngôn ngữ hóa gồm 5 bước như sau: Quan sát sự vật, sự việc Sắp xếp suy nghĩ Tóm tắt có mục đích Hiểu đối phương Truyền đạt 1. Quan sát sự vật, sự việc Thông thường khi thưởng thức một món ăn ngon, để khen là ngon có phải bạn chỉ nói rằng “Món này ngon quá” hoặc “Giòn/ngọt nhỉ”? Sau đây là đoạn miêu tả của một người nước ngoài nói về món tóp mỡ (tép mỡ) của Việt Nam mà mình rất ấn tượng. Tóp mỡ là những viên gồm da, mỡ và thịt heo. Bộ ba “thần thánh” này được chiên đến khi có màu nâu vàng, sau đó được phủ một lớp nước mắm kho kẹo, thêm chút ớt và tỏi phi. Cho một cục tóp mỡ nóng hổi vào miệng, cắn một cái, âm thanh giòn rụm và lớp mỡ tóe ra trên đầu lưỡi mang lại một thứ xúc cảm diệu kỳ” -Jordy Trachtenberg, người Mỹ sống tại Tp. HCM- Link Bạn thấy giữa cách tả của mình và của anh bạn này có gì khác nhau không? Có thể bạn nghĩ rằng việc chỉ nói được vài từ như ngon, giòn… là do thiếu vốn từ, nhưng thực chất suy nghĩ sâu hơn thì là do thiếu sự quan sát. Do không có thói quen quan sát và suy nghĩ mỗi ngày nên bạn miêu tả mọi món chỉ với một từ ngon; trong khi vị của một miếng bánh kem này với vị ngon của miếng bánh kem khác có khi cũng khác nhau rồi. Vì vậy, để rèn luyện được khả năng ngôn ngữ thì việc đầu tiên cần làm là phải luyện tập khả năng quan sát. 2. Sắp xếp suy nghĩ Đây là quá trình sắp xếp các suy nghĩ trong đầu sao cho thật dễ hiểu. Nếu suy nghĩ của bạn bị phân tán, lộn xộn thì quá trình này sẽ rất khó khăn. Phương pháp hiệu quả ở đây là rèn luyện tư duy logic. Tư duy logic là cách “đưa những thứ phức tạp trở thành thứ đơn giản”. 3. Tóm tắt có mục đích Để hiểu hơn về phần này, mình muốn mọi người bắt đầu với một bài luyện tập. Xin lỗi bạn đọc vì phải luyện tập hơi nhiều trong các bài viết của mình, nhưng các bạn cũng biết rồi đấy học thì phải có hành phải không nào ^^. Luyện tập: Hãy kể chuyện Thánh Gióng trong một câu. ----- Dừng lại 30 giây để suy nghĩ… ----- Giờ hãy thử kể lại câu chuyện lần nữa theo 3 câu hỏi sau Tóm tắt lại nội dung chuyện Thánh Gióng trong một câu. Giới thiệu về chuyện Thánh Gióng trong một câu sao cho người đọc thấy hứng thú và muốn đọc thử. Nói cảm nhận của bạn về chuyện Thánh Gióng trong 1 câu. Bạn có nhận thấy tùy vào từng MỤC ĐÍCH mà cách nói của bạn sẽ thay đổi không? Như vậy, để tóm lược được nội dung muốn truyền tải bạn phải hiểu được mục đích của của bạn là gì. 4. Hiểu đối phương Phần này khá dễ hiểu vì thông thường ta sẽ lựa chọn các cách diễn đạt khác nhau tùy vào nền tảng của từng đối phương. Hiểu được đối phương giúp chúng ta tìm được cách nói phù hợp, dễ hiểu với họ, giúp họ dễ hình dung hơn. Ví dụ như nếu bạn muốn mô tả quả táo, nếu nói với một người lớn tuổi rằng đó là biểu tượng logo của iPhone thì mình không chắc họ sẽ đoán ra. Để hiểu nền tảng của đối phương thì cần rèn khả năng quan sát, biết lắng nghe và đặt câu hỏi. Bởi lẽ chúng ta sẽ không thể hiểu được người khác nếu chỉ mải mê nói về bản thân mình. 5. Truyền đạt Bước cuối cùng là truyền đạt đến đối phương. Bước này yêu cầu bạn phải từ bỏ sự cầu toàn cũng như mong muốn được nói ra ngay lập tức tất cả những thứ trong đầu. Quay lại câu hỏi mình đã đưa ra ở đầu bài. Gần đây bạn có gặp phải tình huống khó khăn nào khi diễn đạt bằng lời không? Bạn thử nghĩ xem khó khăn của mình nằm ở bước nào trong 5 bước trên nhé. Khó ở đâu gỡ ngay ở đó! Bài luyện tập bonus: Đoán vật được mô tả Nhìn vào ảnh này bạn thấy cái gì? Beautiful red apple on a white background. For package design Là một thứ có thể ăn được, hình tròn khoảng bằng nắm tay, bên trong có hạt màu đen. Có thể ăn luôn hoặc ép lấy nước uống. Là quả táo đúng không? Bạn hãy nhìn vào ảnh trên và miêu tả cho người khác những gì bạn thấy trong ảnh, để họ đoán xem bạn đang miêu tả thứ gì. Nguyên tắc là khi nói không được nhắc đến các từ như Táo, Apple, りんご. Nếu bạn tập mô tả ảnh với những người khác, bạn sẽ thấy có rất nhiều cách khác nhau để diễn đạt về cùng một sự vật, sự việc. Tổng kết Mình xin tổng kết lại bài dưới dạng Q&A nhé 😉 Q: Không biết phải nói hay viết gì đầu tiên? A: Hãy rèn tính QUYẾT ĐOÁN, tập đưa ra quyết định và tìm lý do để trả lời. Q: Không hiện chữ trong đầu? A: Hãy 1) tăng kiến thức nền (đọc sách…), 2) tập quan sát, 3) tạo thói quen tự đặt câu hỏi – tự trả lời, 4) tìm hiểu khái niệm Tư duy logic (Logical thinking), 5) Đưa các từ ngữ bạn vẫn quen dùng hàng ngày như ngon, giỏi, đẹp… vào danh sách cấm, luôn ý thức tìm ra cách nói khác để đa dạng hơn vốn từ của mình. Q: Không biết cách tóm lược? A: Hãy hiểu mục đích của việc truyền đạt và luyện tóm lược trong một câu. Q: Khó khăn trong việc truyền đạt đến đối phương? A: Hãy sống với phương châm HOÀN THÀNH HƠN HOÀN HẢO. Từ bỏ CẦU TOÀN. Nguồn tham khảo Các bạn có thể tham khảo thêm về chủ đề Ngôn ngữ hóa ở đây: https://mba.globis.ac.jp/careernote/1258.html Tìm hiểu thêm về khả năng quan sát: sách Óc quan sát của tác giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần.
- [E-learning] Giới thiệu chung về Shukatsu
Không biết bắt đầu quá trình Shukatsu từ đâu là nỗi lo của nhiều sinh viên sắp tốt nghiệp tại Nhật Bản. Hãy theo dõi bài viết dưới đây để hiểu rõ hơn nhé! Theo kết quả điều tra được Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhật Bản (MEXT) công bố ngày 1/5/2021, có khoảng 201,877 sinh viên nước ngoài đang theo học tại các cơ sở đào tạo tại Nhật, chiếm 4.1% trên tổng số sinh viên toàn quốc. Cùng năm này, Recruit Works Institute (Viện nghiên cứu độc lập về Tổ chức và Cá nhân tại Nhật Bản) cũng đã chỉ ra có tới 683,000 vị trí tuyển dụng dành cho sinh viên mới tốt nghiệp, trong đó vị trí tuyển dụng dành cho sinh viên nước ngoài chiếm 23%. Với mong muốn mang lại môi trường làm việc đa văn hoá, đồng thời tăng cơ hội mở rộng kinh doanh, tiếp cận thị trường quốc tế, các doanh nghiệp Nhật Bản ngày càng chú trọng hơn trong việc tuyển dụng người nước ngoài. Mặt khác, nhu cầu tìm việc tại Nhật của sinh viên ngoại quốc sau thời gian học tập tại Nhật cũng tăng lên đáng kể. Để tìm được công việc phù hợp sau khi tốt nghiệp, mỗi sinh viên đều phải trải qua một hoạt động mang tên Shukatsu. 1. Định nghĩa về Shukatsu Đối với những ai đã và đang theo học tại các cơ sở đào tạo tại Nhật Bản, hoặc các chương trình liên quan đến Nhật, chắc hẳn không ít lần bạn đã từng nghe đến cụm từ Shukatsu (就活). Vậy Shukatsu là gì? Shukatsu được viết tắt từ Shushoku Katsudo (就職活動), tiếng Việt có nghĩa là “Hoạt động tìm kiếm việc làm”. Hoạt động này dành riêng cho các bạn sinh viên sắp tốt nghiệp hoặc mới ra trường (新卒), đang nỗ lực tìm kiếm công việc phù hợp. Hàng năm, các công ty Nhật dành hàng ngàn vạn yên và xây dựng một đội ngũ tuyển dụng chuyên nghiệp, nhằm mục đích tuyển đủ chỉ tiêu sinh viên mới ra trường và không có nhiều kinh nghiệm. 2. Shukatsu – Hoạt động gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp Nhật Bản và sinh viên Đã khi nào bạn tự thắc mắc “Lý do khiến các công ty Nhật tiêu tốn nhiều công sức và tiền bạc vào việc tuyển dụng sinh viên mới ra trường là gì? “ hay “Sinh viên cần làm gì để tìm được công việc mình yêu thích, làm việc trong công ty Nhật mình mong muốn sau khi tốt nghiệp?” Câu trả lời sẽ được bật mí trong video với chủ đề: Tìm việc ở Nhật dành cho người ít kinh nghiệm tìm việc – Shukatsu là gì? Đây là video đầu tiên nằm trong chuỗi E-Learning do Ban Tổ Chức biên soạn độc quyền. Video cung cấp thông tin hữu ích và một vài mẹo nhỏ về Shukatsu tại Nhật. Sau khi xem xong video, bạn sẽ hiểu được những thuật ngữ liên quan và lịch trình chung của Shukatsu, cũng như các chứng chỉ nên có và nên học trong quá trình tìm việc. Hơn hết, bạn sẽ biết được vị trí của mình trên thị trường lao động Nhật Bản. 3. Bộ sản phẩm E-Learning – Chìa khóa tìm việc thành công tại Nhật Bản Được ví như cuốn cẩm nang dành cho người ít kinh nghiệm tìm việc tại Nhật Bản, bộ sản phẩm E-Learning gồm các video và tư liệu nhằm giới thiệu và giải thích những nội dung cần thiết nhất, đồng thời cung cấp công cụ hữu ích được tổng hợp từ kinh nghiệm thực tế của cộng đồng người Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản. ***Lưu ý: Cuối các chủ đề Phân tích bản thân và Tìm hiểu doanh nghiệp có các bài tập nhỏ giúp bạn luyện tập.
- [E-learning] Phân tích bản thân
Không biết đâu là điểm mạnh, điểm yếu của bản thân? Không biết làm thế nào để tìm được công việc phù hợp với tính cách, có thể gắn bó và phát triển lâu dài? Nếu bạn đang có những thắc mắc như trên, hãy thử tìm câu trả lời trong bài viết dưới đây nhé! 1. Thế nào là phân tích bản thân? Khi nhắc tới phân tích bản thân, nhiều người sẽ nghĩ đó là việc làm các bài kiểm tra tính cách, nghiên cứu cung hoàng đạo, hay thậm chí là xem tử vi. Tuy nhiên, đối với quá trình xin việc, nó lại được hiểu theo một khía cạnh khác. Phân tích bản thân là khả năng ứng viên hiểu rõ chính mình, từ đó xây dựng lên một “thương hiệu độc quyền” để gây ấn tượng với nhà tuyển dụng thông qua những câu chuyện thu hút và đáng nhớ. Theo iiwasabi, việc ứng viên có hiểu biết nhất định về bản thân sẽ giúp công cuộc viết hồ sơ hay đi phỏng vấn trở nên “dễ thở” hơn. Còn theo Rikunabi, đây là việc hồi tưởng, sắp xếp kinh nghiệm và cách suy nghĩ cá nhân, từ đó giúp lý giải tính cách và định hướng nghề nghiệp. Vậy trong quá trình Shukatsu, ta nên phân tích bản thân thế nào? 2. Biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng Chủ đề “Phân tích bản thân” cung cấp thông tin hữu ích về khái niệm chung, đồng thời hướng dẫn cách phân tích bản thân thông qua ví dụ thực tế. Sau khi xem hết video và thực hành bài tập, bạn sẽ có cái nhìn bao quát hơn về bản thân và biết cách đưa ra những “từ khóa” của riêng mình. 3. Bộ sản phẩm E-Learning – Chìa khóa tìm việc thành công tại Nhật Bản Được ví như cuốn cẩm nang dành cho người ít kinh nghiệm tìm việc tại Nhật Bản, bộ sản phẩm E-Learning gồm các video và tư liệu nhằm giới thiệu và giải thích những nội dung cần thiết nhất, đồng thời cung cấp công cụ hữu ích được tổng hợp từ kinh nghiệm thực tế của cộng đồng người Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản. Xem video tại: https://videopress.com/v/nllw5Se2
- [Kinh nghiệm] Recruiter (P1): 5 câu hỏi thường gặp khi phỏng vấn xin việc tại Nhật
Table of Content Background của tác giả 5 điểm đánh giá ứng viên 1. Hard skills – kinh nghiệm làm việc nổi bật của bạn là gì? 2. Lý do nghỉ việc ở mỗi công ty có hợp lý không? 3. Hãy tự đánh giá các kĩ năng chính, điểm mạnh, điểm yếu và sở thích của bản thân. 4. Bạn muốn tìm công việc như thế nào? 5. Kĩ năng mềm & tính cách Kết Background của tác giả "Xin chào mọi người. Mình tên là Diệp, qua Nhật chính thức từ năm 2018. Mình đang làm việc trong một công ty săn tìm nhân sự cao cấp (Executive Search) ở Ginza được hơn 2 năm, chuyên hỗ trợ các công ty nước ngoài ở Nhật săn tìm lãnh đạo mảng Nhân sự (HR) và Tài chính (Finance, Accounting). Hoạt động chính của mình trong nghề là liên lạc và trò chuyện với các bác lãnh đạo level APAC và Japan, phần lớn là General Manager, Head of HR, Head of Finance, HR Business Partner… để hiểu thêm về tình hình kinh doanh và chiến lược nhân sự của họ. Từ đó, nếu họ có nhu cầu tuyển dụng, hoặc điều chỉnh hình ảnh thương hiệu (Employer Branding), etc… thì mình có thể thảo luận những dịch vụ phù hợp đáp ứng nhu cầu đó. Bên cạnh đó, mình cũng được trò chuyện với rất nhiều người làm trong mảng tài chính, nhân sự (thi thoảng cả những mảng khác) để hiểu về hoàn cảnh, nhu cầu cá nhân của họ, và hỗ trợ họ trong suốt quá trình từ nộp hồ sơ, phỏng vấn tới chốt offer, on boarding nếu có cơ hội phù hợp. Hôm nay mình muốn chia sẻ sơ lược khi mình gặp ứng viên thì mình thường đánh giá họ ở những điểm nào, hi vọng sẽ hữu ích khi các bạn đang trong quá trình tìm việc và muốn làm việc với recruiter một cách có hiệu quả hơn. Ở bài sau mình sẽ chia sẻ cho các bạn recruiter một số tips của mình để thành công trong nghề nhé. 5 điểm đánh giá ứng viên khi phỏng vấn xin việc tại Nhật Không chỉ phỏng vấn xin việc tại Nhật, mà các công ty nói chung. Có thể điểm qua là các công ty hàng đầu sẽ đều muốn chọn người nói năng mạch lạc, logic, có thái độ tích cực, can-do attitude, cởi mở trong suy nghĩ, biết lắng nghe và giao tiếp lịch sự, tôn trọng khi người khác làm lãnh đạo. 1. Hard skills – kinh nghiệm làm việc nổi bật của bạn là gì? Mình sẽ hỏi ứng viên về thành tích của họ, ví dụ một project nổi bật hoặc khó ở mỗi công ty mà họ đã từng làm. Trong đó, họ báo cáo công việc cho ai, có quản lý team không, nhiệm vụ chính của họ là gì. Dựa vào câu chuyện mà họ kể và cách họ kể, mình có thể hiểu được scope of work (quy mô công việc), level of seniority (vị trí trong công ty), cách suy nghĩ, cách làm việc với người khác, và sự tự tin/tiềm năng của họ. Tuy nhiên, rất khó để recruiter đánh giá hard skills của ứng viên vì recruiter không làm công việc đó, thế nên ở đây mình không đánh giá trình độ chuyên môn mà đánh giá việc ứng viên chọn trải nghiệm nào để kể và khả năng truyền đạt của họ. Cá nhân mình hay dùng cái này để trao đổi về hồ sơ ứng viên khi nói chuyện với các công ty. 2. Lý do nghỉ việc ở mỗi công ty có hợp lý không? Hầu hết các công ty đều muốn biết về điểm này ở ứng viên. Lý do hợp lý thường là vì hoàn cảnh gia đình, vì công ty tái cơ cấu, vì đã ở công ty đủ lâu, đóng góp đủ và công việc mới sẽ mang lại nhiều giá trị cho sự nghiệp hơn… Mình thường muốn hỏi kĩ câu này để xem ứng viên có vấn đề gì không, ví dụ có phải họ bị sa thải vì năng lực hay kĩ năng giao tiếp kém, hay bản thân họ không suy nghĩ chín chắn nên cứ chọn những công việc khiến họ không happy. Vậy nên, các bạn hãy suy nghĩ kĩ về lý do thực sự khi quyết định nghỉ việc, và chuẩn bị câu trả lời logic cho nó khi được công ty hay recruiter hỏi. 3. Hãy tự đánh giá các kĩ năng chính, điểm mạnh, điểm yếu và sở thích của bản thân. Thi thoảng mình thích đối chiếu đánh giá của mình với phần ứng viên tự đánh giá xem có lệch nhau quá không. Một số ứng viên chưa có hiểu rõ bản thân ở một số điểm, và mình có thể giúp feedback cho họ. Ngoài ra phần này giúp mình hiểu cá tính của ứng viên để gợi ý môi trường phù hợp. Những điều recruiter muốn biết về bạn 4. Bạn muốn tìm công việc như thế nào? Thường thì tiêu chuẩn về công việc sẽ bao gồm: Vị trí nào? Thích đóng góp/ challenge mảng nào, thích giải quyết loại vấn đề gì, vị trí này có thể hỗ trợ sự nghiệp của họ thế nào kiểu thăng tiến hay đi nước ngoài… Công ty gì? Ngành gì, công ty to hay bé, văn hoá thế nào… Địa điểm làm việc Mức lương hiện tại Mức lương mong muốn Hoàn cảnh gia đình có gì đặc biệt, ví dụ có con nhỏ cần về nhà sớm etc… Một phần, những priorities này là guideline để mình giúp họ. Phần khác là để xem họ có thực tế hay không, và mình có thể tư vấn thêm một số ý tưởng khác không. 5. Kĩ năng mềm & tính cách Mình đánh giá soft skills và tính cách của họ thông qua cả cuộc nói chuyện. Mỗi người một tính, mình không đánh giá họ là người tốt hay xấu mà chỉ xem họ có đủ điều kiện để mình hợp tác, và giúp họ bây giờ hoặc sau này không thôi. Có thể điểm qua là các công ty hàng đầu sẽ đều muốn chọn người nói năng mạch lạc, logic, có thái độ tích cực, can-do attitude, cởi mở trong suy nghĩ, biết lắng nghe và giao tiếp lịch sự, tôn trọng khi người khác làm lãnh đạo. Ngoài việc hỏi ứng viên trực tiếp, mình rất thích lấy reference check về một người nào đó từ người khác khi có thể (thị trường vòng quanh thực ra cũng nhỏ). Kết Rút lại ở chủ đề này là ở thời điểm nào cũng thế, đặc biệt khi muốn chuyển việc hoặc khi tìm hiểu thị trường việc làm, sẽ rất có lợi nếu bạn tự nhìn lại và hiểu rõ bản thân. Hiểu rõ bản thân là lợi thế khi muốn tìm việc hoặc chuyển việc Khi nói chuyện với ứng viên thì mình muốn hiểu người đó. Hiểu không chỉ là kĩ năng cứng/mềm, mà cả cá tính, khả năng, sở thích, hoàn cảnh cá nhân, và tiềm năng của họ. Mình nhận ra ứng viên càng hiểu bản thân bao nhiêu thì họ sẽ có phong thái, cách diễn đạt giúp cho recruiter hiểu/ có thể giúp đỡ họ dễ dàng bấy nhiêu. Bạn là người thế nào, có giá trị gì, bạn đã/ đang/ muốn làm gì và tại sao lại như thế. Trong mỗi việc bạn làm nên có tối thiểu 1 thành tích nào đó khiến bả thân thấy hài lòng. Hãy rèn luyện cách diễn đạt gãy gọn, mạch lạc, dễ hiểu. Nên đối xử tử tế, để lại ấn tượng đẹp với mọi người xung quanh (kể cả không thích ai thì cố gắng điều tiết cách nói chuyện, tránh bị tiếng không lành đồn xa…). Những điều này sẽ giúp ích nhiều cho bạn khi đang làm việc cũng như khi muốn chuyển việc.
- [E-learning] Tìm hiểu doanh nghiệp trong quá trình tìm việc ở Nhật Bản
Việc tìm hiểu kĩ càng về doanh nghiệp trước khi phỏng vấn giúp bạn nắm chắc 50% tự tin trong quá trình tìm việc ở Nhật Bản. ▪️ Làm sao để chọn ngành nghề phù hợp với bản thân? ▪️ Làm sao để biết đâu là một doanh nghiệp lý tưởng cho sự nghiệp trong tương lai? Đối với những bạn du học sinh Việt Nam đang sinh sống và học tập ở Nhật Bản, việc tìm được một công việc phù hợp, một công ty “vừa vặn” với nhu cầu của bản thân là một bài toán vô cùng khó khăn. Nếu bạn đang băn khoăn hay lo lắng với những câu hỏi trên, bài viết này chính xác là tất cả những gì bạn đang cần tìm kiếm. Trước khi bắt đầu hành trình Shukatsu ở Nhật, có 2 điều mà bạn không thể nào được bỏ qua đó chính là: Phân tích bản thân (自己分析) và Tìm hiểu doanh nghiệp (企業研究). 1. Vì sao phải cần tìm hiểu doanh nghiệp? Với giai đoạn “Phân tích bản thân”, bạn nhận ra ưu – nhược điểm cũng như nguyện vọng nghề nghiệp của chính mình. Tại giai đoạn “Tìm hiểu doanh nghiệp”, bạn sẽ trả lời các câu hỏi như: “Đâu là công việc phù hợp với tính cách và ưu nhược điểm của bản thân?” hay “Đâu là nơi giúp bạn phát huy tối đa thế mạnh của chính mình?”. Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không thực sự bỏ nhiều công sức để tìm hiểu về doanh nghiệp? Hãy thử tưởng tượng: với một nhân viên với tính cách hướng nội, niềm vui trong công việc của cô ấy chính là được miệt mài làm việc với những con số trong văn phòng. Sẽ ra sao nếu một ngày, cô ấy bị thuyên chuyển sang bộ phận Sales, suốt ngày phải gặp gỡ khách hàng và cố gắng “chốt đơn” nhiều nhất có thể? Không ít người cảm thấy chán nản và muốn từ bỏ ngay dù chỉ mới vào công ty được vài tháng. Và hầu hết những lý do được đưa ra là: “Công việc này không phù hợp với tôi”, hay nổi trội hơn là “Tôi không thể thích nghi được với môi trường làm việc của công ty này.” Nguyên nhân cho những biến cố bất ngờ này là gì? Câu trả lời nằm ở việc: Có hay không bạn đã thực sự tìm hiểu doanh nghiệp một cách kĩ càng? 2. Biết “Tìm hiểu doanh nghiệp” quan trọng, nhưng vấn đề là… bằng cách nào? Việc tìm hiểu doanh nghiệp thường tốn rất nhiều thời gian và công sức nếu bạn không biết cách thực hiện nó một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc tìm hiểu về các doanh nghiệp Nhật lại còn khó khăn gấp bội. Hiểu được tâm lý đó, Ban tổ chức đã dành rất nhiều tâm huyết để đem đến những thông tin cần thiết nhất và những phương pháp tìm hiểu doanh nghiệp một cách chi tiết. Tất cả được gói gọn trong một video hướng dẫn. Chỉ cần bỏ ra một chút thời gian trong ngày, ngồi ngay ngắn vào bàn học, mở video lên và làm theo, bạn sẽ trả lời được câu hỏi: “Đâu là doanh nghiệp phù hợp với mình?” 3. Video “toàn năng” này có gì đáng thu hút? ▪️ Khái quát những thông tin cần thiết để tìm hiểu doanh nghiệp.▪️ Cung cấp framework và bài tập chi tiết để bạn bắt tay ngay vào thực hành phân tích những công ty mình đã chọn.▪️ Tích hợp nhiều ví dụ thực tế, dễ hiểu vào nội dung bài học, giúp bạn có được những hình dung rõ ràng và khách quan. 4. Bộ sản phẩm E-Learning – Chìa khoá tìm việc thành công tại Nhật Bản Được ví như cuốn cẩm nang dành cho người ít kinh nghiệm tìm việc tại Nhật Bản, bộ sản phẩm E-Learning gồm các video và tư liệu nhằm giới thiệu và giải thích những nội dung cần thiết nhất, đồng thời cung cấp công cụ hữu ích được tổng hợp từ kinh nghiệm thực tế của cộng đồng người Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản.
- [Kinh nghiệm] Recruiter (P2): Bốn tips giúp làm việc hiệu quả
Xin chào mọi người! Mình tên là Diệp, hiện đang làm việc trong ngành tuyển dụng tại Nhật Bản. Trong phần trước, mình đã chia sẻ về những tiêu chí mà mình thường dùng để đánh giá ứng viên. Hôm nay, mình muốn chia sẻ một chút kinh nghiệm về cách cân bằng công việc trong ngành tuyển dụng. Hy vọng rằng những chia sẻ này sẽ hữu ích cho những bạn đang muốn bước vào lĩnh vực này hoặc đang cảm thấy quá tải trong công việc. Nhiều người thường nói rằng hai năm đầu vào nghề tuyển dụng là giai đoạn khó khăn nhất (có thể đúng với mọi nghề). Điều này càng trở nên thách thức hơn khi mình mới đến Nhật và phải thích nghi với văn hóa mới. Công việc của mình có cường độ khá cao; có những ngày mình làm việc không ngừng, và thật thú vị (hoặc cũng có thể là điều không hay) là công việc dường như không bao giờ kết thúc. Cuối năm ngoái, mình đã trải qua một giai đoạn "burnout" - cảm giác kiệt sức, giảm cân và trở nên khó tính bất thường. Từ đầu năm nay, mình đã chủ động thực hiện một số thay đổi trong cuộc sống cá nhân, và sau hơn 6 tháng, mình cảm thấy mình đã chuyển mình và làm việc hiệu quả hơn rất nhiều. Dưới đây là bốn điều mà mình đã và đang áp dụng; nếu bạn đang gặp vấn đề tương tự, hãy thử xem nhé! 1. Quản lý năng lượng bằng lối sống điều độ Ngủ: Mình cố gắng đi ngủ trước 11 giờ tối và ngủ đủ 7 tiếng. Ăn uống: Tăng cường ăn rau củ quả tươi và giảm bớt thịt đỏ. Tập thể dục: Mình thường bắt đầu ngày mới bằng việc tập yoga, tối thiểu 10 phút, nhưng đôi khi lên đến 30-60 phút. Nhiều ngày mình chỉ tập 10-15 phút nhưng cũng rất hiệu quả. Vitamin cảm xúc: Mình đọc được rằng việc được ôm hay chạm vào người khác rất quan trọng. Nếu bạn không có ai để ôm, hãy thử đi massage thỉnh thoảng. 2. Viết nhật ký và lên kế hoạch Mỗi buổi sáng, sau khi tập thể dục hoặc trước khi bắt đầu làm việc, mình dành khoảng 5-20 phút để viết nhật ký. Trước đây, mình hiếm khi viết tay vì thường dùng điện thoại hoặc máy tính, nhưng việc cầm bút viết đã mang lại cảm giác thư giãn bất ngờ. Mình theo học phương pháp của Jim Kwik, và thường chia nhật ký thành ba cột: To do (Work), To do (Personal – VD. đọc sách, dọn nhà…) và To feel (VD. Calm, positive, grateful…). Phương pháp này giúp mình định hướng cho ngày mới và theo dõi cảm xúc của bản thân. Khi đọc lại những gì đã viết, mình cảm thấy vui khi nhận ra mình đã làm được nhiều điều. 3. Nói ít, làm nhiều Bình thường, mình nghĩ và nói quá nhiều, dẫn đến mệt mỏi. Bây giờ, mình cố gắng tập trung vào hành động mà không phàn nàn. Khi ghi chú trong nhật ký rằng mình đã tập yoga liên tiếp 10, 20, 30 ngày, cảm giác thật tuyệt vời. Việc thực hiện và ghi chép đã trở thành một thói quen tích cực trong công việc của mình. 4. Rèn luyện khả năng tập trung Mình cải thiện khả năng này bằng cách giảm thiểu việc đa nhiệm và thực hành thiền. Trước đây, mình thường vừa ăn vừa xem tin tức hoặc Netflix, nhưng giờ đây, mình chỉ tập trung vào việc ăn. Điều này không chỉ giúp mình ăn ngon hơn mà còn tiết kiệm thời gian để làm những việc khác. Mình cũng đã chủ động hơn trong việc thiền thông qua ứng dụng Insight Timer, thiền từ 10-30 phút mỗi ngày, tập trung vào hơi thở và cơ thể. Không biết có phải nhờ vậy mà hiện tại mình làm việc hiệu quả hơn và cảm thấy nhẹ nhàng, giảm bớt căng thẳng. Kết luận Trên đây là một vài chia sẻ nhỏ bé của mình (mặc dù có thể hơi dài dòng). Mình viết những điều này khi chưa đến 30 tuổi, chưa có con, chưa thành thạo tiếng Nhật, và vẫn đang tìm hiểu về môi trường làm việc tại Nhật Bản. Tuy chưa có nhiều kinh nghiệm hỗ trợ các start-up hay làm việc với những người mới vào nghề, nhưng mình hy vọng rằng những chia sẻ này có thể mang lại giá trị nào đó cho bạn. Rất mong được kết nối và học hỏi thêm từ nhiều bạn và các anh chị. Chúc mọi người luôn khỏe mạnh và hạnh phúc! Namaste. *Bài viết được biên tập lại từ bài viết gốc của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Diệp trên Group Facebook: Đi làm tại Nhật VPJ
- [E-learning] Trọn bộ Entry sheet từ 12 công ty lớn thuộc 6 ngành hot
Để nhận tấm vé bước vào vòng phỏng vấn với doanh nghiệp, một Entry sheet chỉn chu là mục tiêu quan trọng mỗi sinh viên luôn hướng tới. Sau khi hoàn thiện việc phân tích bản thân và tìm hiểu doanh nghiệp, bạn lại trăn trở “Làm thế nào để có một Entry sheet độc đáo, ghi điểm với nhà tuyển dụng?”. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn trả lời nỗi niềm này. 1. Khái lược về Entry sheet Trong quá trình Shukatsu, Entry sheet (エントリシート) là một dạng hồ sơ cá nhân cung cấp thông tin của sinh viên tới các doanh nghiệp. Nó được coi là tài liệu tham khảo giúp nhà tuyển dụng đặt câu hỏi trong buổi phỏng vấn, cũng là “vũ khí” giúp ứng viên gây ấn tượng với công ty ngay từ vòng chọn lọc hồ sơ. Tùy theo từng công ty, các câu hỏi trong Entry sheet cũng khác nhau. Về cơ bản, nội dung chính xoay quanh 4 chủ điểm được nhà tuyển dụng quan tâm nhất như:▪️ Nỗ lực thời sinh viên (学生時代に頑張ったこと)▪️ Quảng cáo bản thân (自己PR)▪️ Nguyện vọng xin việc (志望動機)▪️ Công việc bạn muốn thử sức sau khi vào công ty (入社後にやりたいこと) Ứng viên có thể nhận Entry sheet từ doanh nghiệp thông qua 2 cách phổ biến: tải từ website công ty ứng tuyển hoặc nhận trực tiếp tại buổi giới thiệu do công ty tổ chức (会社説明会/セミナー). Entry sheet được nộp thông qua website, đường bưu điện hoặc sau những buổi giới thiệu. Entry sheet là tài liệu quan trọng với sinh viên trong quá trình xin việc. Nó ảnh hưởng lớn đến ấn tượng đầu tiên của nhà tuyển dụng về mặt tính cách, giá trị quan, cách suy nghĩ, được bộc lộ qua các câu trả lời của ứng viên. Dựa vào những khía cạnh đó, nhà tuyển dụng có thêm cơ sở để quyết định mời ứng viên vào vòng phỏng vấn tiếp theo. Vậy phải viết Entry sheet như thế nào để “cầm chắc tấm vé” vào vòng phỏng vấn với nhà tuyển dụng? 2. Tổng hợp lời giải tham khảo cho các câu hỏi điển hình trong Entry sheet Chủ đề 4 cung cấp thông tin về các câu hỏi thường gặp trong Entry sheet của một số công ty trong các ngành lớn cùng câu trả lời gợi ý. Sau khi nghiên cứu tài liệu, bạn sẽ tích lũy thêm những cách viết Entry sheet gây ấn tượng mạnh với nhà tuyển dụng. 3. Nâng tầm phân tích câu trả lời trong Entry sheet theo phương pháp SOAR Bên cạnh các câu hỏi mẫu, tài liệu cũng cung cấp phương pháp phân tích câu trả lời trong Entry sheet. SOAR là một phương pháp lập luận chuyên dùng để sắp xếp câu trả lời một cách ngắn gọn và súc tích. SOAR gồm 4 phần: Situation (Tình huống), Obstacle (Trở ngại), Action (Hành động), Result (Kết quả). Phương pháp này giúp bạn tự tin xây dựng câu trả lời mang màu sắc cá nhân, thu hút sự chú ý của nhà tuyển dụng. 4. Chuỗi sản phẩm E-Learning – Chìa khóa tìm việc thành công tại Nhật Bản Được ví như cuốn cẩm nang dành cho người ít kinh nghiệm tìm việc tại Nhật Bản, bộ sản phẩm E-Learning gồm các video và tư liệu nhằm giới thiệu và giải thích những nội dung cần thiết nhất, đồng thời cung cấp công cụ hữu ích được tổng hợp từ kinh nghiệm thực tế của cộng đồng người Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản. Xem ngay tài liệu tại:
- Sales B2B ở công ty thuần Nhật: Bạn có thật sự là một người bán hàng đúng nghĩa?
Chào mọi người! Mình là Thủy, tên thường gọi là Ton. Mình tốt nghiệp đại học APU (Ritsumeikan Asia Pacific University) ngành Quản Trị Quốc Tế, có kinh nghiệm làm Sales B2B hơn 7 năm cho Hitachi và Gartner tại Nhật và Singapore. Từ 2017 mình có đầu tư cho một số startup công nghệ và giáo dục ở VN, nên cuối 2018 mình đã quay lại Nhật thành lập một pháp nhân để thuận tiện kết nối giữa hai nước và làm xúc tiến thương mại. Thú thật là cũng như hầu hết mọi người, hồi đi xin việc mình nhắm đến các tập đoàn lớn, đặc biệt là các Keiretsu (系列) vì những lý do chính dưới đây: Các công ty này đã quen với việc tuyển người nước ngoài. So với SME (Small and Medium-sized Enterprises – các công ty vừa và nhỏ), cơ sở vật chất và đãi ngộ có thể tốt hơn. Công ty mà nhiều người biết tới thì nghe sẽ hoành tráng hơn, bố mẹ ở VN đi khoe cũng dễ hơn. Kết quả là mình chọn vào Hitachi, bộ phận bán hàng thị trường quốc tế, chuyên mảng sản phẩm phần cứng. Hầu hết các công ty như Hitachi đều có chế độ thực tập 2 năm, một năm tại nhà máy để làm quen với sản phẩm và 1 năm OJT (on job training – vừa làm vừa học). Vào thời điểm đó mình bị điều xuống Toyama, ở một vùng khỉ ho cò gáy đúng nghĩa (vì nhà máy chất bán dẫn rất độc hại nên phải xây xa khu dân cư, giữa rừng). Do chỉ có 1 mình mình là con gái, nên cty đành phân mình ở chung 1 ký túc xá với 162 nhân viên nam còn lại trong 1 năm. Những chuyện này sẽ kể sau nếu có thời gian rảnh… Quay lại vấn đề chính, tại sao mình lại nói “công việc Sales B2B ở các công ty thuần Nhật không hẳn là một Sales đúng nghĩa”. Theo ý kiến cá nhân mình, vấn đề chủ yếu là do môi trường và tư duy của các công ty này đã quá cũ, không phù hợp và không bắt nhịp được với thế giới, thậm chí còn không bằng Việt Nam. Có thể nhìn thấy rất rõ qua một số ví dụ dưới đây: 1. Định nghĩa “người bán hàng” Bộ phận bán hàng (営業) tại các công ty cũ của Nhật về cơ bản kết cấu khá giống nhau. Họ có 1 số khách hàng ruột (account) và một nhóm các account manager cùng chăm sóc những khách hàng này. Mục tiêu chính của những account manager này là đảm bảo khách tiếp tục mua hàng hoặc tiếp tục kí hợp đồng, và tìm cách lấy thêm đơn hàng mới từ account này. Việc này không có gì phải bàn cãi. Điều đáng chú ý ở đây là gần như 99% các quyết định chiến lược liên quan đến bán hàng được đưa ra bởi các sếp (người Nhật), nhân viên không có quyền tự quyết. Nếu có kết quả tốt thì hầu hết là do sếp bạn hoặc là công sức của cả 1 tập thể, bạn chẳng có vai trò mấu chốt gì ở đây. Trong khi với các Gaishikei (công ty nước ngoài) hoặc các Startup (công ty khởi nghiệp), do yêu cầu mở rộng thị trường cao, mỗi Sales được giao cho quản lý cả 1 tập khách hàng, chịu hoàn toàn trách nhiệm chăm sóc họ, đồng thời cũng phải đảm bảo mang được khách hàng mới về. Đây mới là định nghĩa đúng của một “Sales”. 2. Sự cạnh tranh Không có một nghề nào đòi hỏi sự cầu toàn, tính nhẫn nại và sự cạnh tranh cao độ như nghề bán hàng. Hiện công ty mình có làm cả mảng nhân sự nên mình có cơ hội được phỏng vấn khá nhiều bạn trẻ có kinh nghiệm làm Sales ở Nhật. Một đặc điểm mình nhận ra khi nói chuyện với các bạn đến từ các công ty lớn như Toshiba, Fujitsu, v.v… là các bạn hầu như thiếu tính cạnh tranh. Cạnh tranh với công ty khác, cạnh tranh với đồng nghiệp hoặc thậm chí với chính bản thân mình. Một trong các lý do lớn nhất là do các bạn không được quyền đưa ra các quyết định bán hàng chiến lược. Lý do thứ hai là việc trả lương và thưởng của các công ty Nhật. Với tư tưởng là duy trì công bằng, thì lại rất bất công với đội Sales. Dù bạn cố gắng đến đâu mà mức thưởng vẫn chia theo số tháng thì chả có lý do gì cần cạnh tranh, đúng không? Trong các công ty mới hoặc các nước trên thế giới, không có giới hạn về thưởng cho người bán hàng. Phấn đấu đạt quota (hạn mức) là chuyện tất nhiên. Và hơn thế nữa, sau khi đã vượt quota, hệ số thưởng cho mỗi hợp đồng mới mang về là rất lớn. Đồng nghiệp cũ của mình ở Singapore, mức thưởng trong năm 2017 của anh lên đến hơn 1 triệu USD, là một con số mà những người làm Sales cho các công ty lớn ở Nhật có mơ cũng không bao giờ đạt tới. Lại nói về tính cạnh tranh. Đối với các công ty Nhật, mọi người luôn đối xử thân thiện cùng tiến với nhau, nhiều người cùng chăm sóc một account nên sự phân định ranh giới về territory (lãnh thổ) không mạnh mẽ như các nơi khác. Mình đã từng chứng kiến một em người Mông Cổ và một em người Indonesia dằn mặt và gần như đánh nhau chỉ vì prospect (khách hàng tiềm năng) của em Mông Cổ tặng hoa chúc mừng sinh nhật cho em Indo. Không phải mình cổ vũ bạo lực, nhưng lý do mình đưa ra ví dụ này là để nói sự cạnh tranh trong Sales là tối cần thiết. Một Sales giỏi nên luôn mang trong mình một chút tính “hiếu chiến” như vậy thì bạn mới có thể bước vào nhóm 20% những người bán hàng top đầu. 3. Bạn bán được những sản phẩm nào? Một trong những việc khiến Sales ở các công ty kiểu cũ khó cạnh tranh khi chuyển việc là vì chế độ giáo dục kỹ năng khá sai lầm. Những công ty này thay vì tập trung đào tạo kỹ năng bán hàng cho nhân viên, thì lại tập trung vào dạy về sản phẩm và những thứ manner khác. Sếp cũ ở Hitachi của mình nói để là một sales giỏi cần biết mình bán cái gì. Ổng đẩy mình về Toyama đúng 1 năm đi vặn ốc vít với hàn cầu chì ở nhà máy. Bởi thế nên sau 3 năm mình chỉ biết cách bán mấy cái máy của Hitachi mà thôi. Sếp ở Singapore của mình cho mình 2 tháng qua Sydney để học một khóa huấn luyện kỹ năng bán hàng. Trong 2 tháng đó mình học về sản phẩm hết 3 ngày, còn lại tập trung vào các kỹ năng mềm như cách lọc tìm khách hàng tiềm năng, cách đặt câu hỏi và dẫn dắt quá trình đến khi chốt được đơn hàng, v.v… Kể cả sau khi đã kết thúc training, mỗi tuần một lần bọn mình có 1-on-1 meeting (họp riêng) với sếp để rà soát một lượt các vướng mắc khó khăn, và 1 lần cả team tập hợp để role-play (đóng vai) giả lập các tình huống xảy ra trong nghiệp vụ bán hàng. Các đồng nghiệp cũ của mình sau khi chuyển việc có thể làm ở bất cứ công ty nào, không giới hạn loại sản phẩm hay dịch vụ, vì cốt lõi của phương thức bán hàng bọn mình đã nắm được và không ngừng rèn giũa thêm. Viết hơi dài rồi, nếu ai thương mà đọc được đến đây thì mình vui lắm ạ. Lần sau có thời gian sẽ viết một bài chi tiết hơn về phương thức sales mà công ty cũ của mình đã mất 25 năm thuê chuyên gia về xây dựng và đúc kết qua hơn 6000 nhân viên trên toàn thế giới. Hy vọng có ích với mọi người!
- [Kinh nghiệm] Thi chứng chỉ phiên dịch y tế 医療通訳技能検定試験
Mình xin phép review về kỳ thi lấy chứng chỉ phiên dịch y tế mà mình đã thi vừa rồi. Hy vọng các bạn đang quan tâm tới việc học thêm chứng chỉ để có thêm cơ hội công việc ở Nhật, cũng như các bạn yêu thích và quan tâm tới tiếng Nhật trong ngành y tế sẽ có thêm một chút thông tin tham khảo. Kỳ thi mà mình đã tham gia có tên là 医療通訳技能検定試験 (Kỳ thi kỹ năng phiên dịch ngành y tế). Kỳ thi do日本医療通訳協会 (Hiệp hội phiên dịch Y tế Nhật Bản) tổ chức định kỳ 2 lần/năm với nhiều thứ tiếng, trong đó phổ biến nhất là Anh – Nhật và Trung – Nhật. Kỳ thi tiếng Việt cũng mới được tổ chức dạo gần đây và đây là lần đầu tiên mình tham gia. Chi tiết các bạn có thể xem tại đây: http://gi-miaj.org/test 1. Lý do dự thi Hiện tại, mình đang tham gia làm nội dung cho trang về y tế Nhật Bản là Japan Medical Gate. Mọi người trong team đều đã có kinh nghiệm làm việc trong ngành y nhiều năm. Mình muốn nhân cơ hội này học thêm về y tế để có được nền tảng kiến thức và tiếng Nhật tốt hơn để hỗ trợ được mọi người tốt hơn nữa. Một số bệnh viện ở Nhật hiện cũng đã bắt đầu yêu cầu phiên dịch đảm nhận các ca dịch tại bệnh viện phải có chứng chỉ phiên dịch y tế. Do đó, mình cũng muốn chuẩn bị trước để biết đâu sau này có dịp lại cần dùng. Đây cũng là một dịp hay để mình có động lực học hành hơn, kiểm chứng lại xem năng lực của mình đến đâu, chứ nhiều khi ở nhà tự sướng lại dễ bị ảo tưởng sức mạnh. 2. Cấu trúc kỳ thi Vòng 1: Thi viết (筆記試験) Thời gian thi: 120 phút. Thi viết gồm 12 bài lớn, trong mỗi bài lại có khoảng 10 câu nhỏ. Ngoài ra còn có phần thi viết tay. Kết quả thi vòng 1 được phân thành 2 cấp: cấp 2 (bài thi đạt 70 điểm trở lên) và cấp 1 (bài thi được 80 điểm trở lên). Vòng 2: Thi vấn đáp(ロールプレイ) Những ai thi đỗ vòng 1 mới được thi tiếp vòng 2. Thí sinh đạt cấp 2 ở cả hai vòng (bài thi vấn đáp đạt 70 điểm trở lên) thì sẽ được công nhận 医療通訳2級, tức là có khả năng dịch được các trường hợp 健康診断・検診 (khám sức khỏe tổng quát). Thí sinh đỗ cấp 1 ở vòng 1 nhưng vòng thi roleplay chỉ được cấp 2 thì kết quả cuối cùng cũng vẫn chỉ được công nhận là 医療通訳2級. Thí sinh đỗ cấp 1 ở cả hai vòng (thi vấn đáp đạt 85 điểm trở lên) thì mới được công nhận 医療通訳1級. Tức là có khả năng dịch được cả những trường hợp bệnh nặng 重症の病気に対応できるレベル. Đợt vừa rồi mình mới qua vòng 1 thi viết, đỗ ở mức điểm cấp 2. Lần thi tiếp vòng 2 thi vấn đáp mà mình đạt cấp 2 trở lên thì mới có chứng nhận 医療通訳2級. Còn nếu trượt thì tới kỳ thi lần sau mình phải thi lại vòng vấn đáp lần nữa, thi tới khi đỗ thì mới được chứng nhận. Trong lần thi kế tiếp sau đó thì được miễn kỳ thi viết. 3. Review Vòng 1: Thi viết Giờ mình đi vào review phần thi viết nhé. Trước khi đi vào review chi tiết thì mình xin nói qua về background của mình khi thi chút để mọi người dễ hình dung. Mình học thuần kinh tế từ đại học tới cao học, công việc từ khi ra trường không liên quan nhiều tới biên phiên dịch. Về y tế, hầu hết kiến thức là do mình tự đọc tự tìm hiểu vì sở thích và do thói quen. Lần sinh đứa thứ 2 mình phải nhập viện dài ngày nên thời gian ở bệnh viện lâu. Lúc sinh đứa đầu mình doạ sinh non nên nhập viện khoa sản 70 ngày, cũng tìm hiểu khá kỹ về mảng y tế mảng khoa sản…Từ đấy mình hình thành nên thói quen hay đọc về y tế. Tiếng Nhật của mình là trình độ cấp 1 tương đương N1 bây giờ, khả năng đọc hiểu cũng khá. Hồi xưa thi tiếng Nhật mình làm phần đọc hiểu toàn thừa 50% giờ. Đây cũng là một lợi thế giúp mình đợt này đọc hiểu đề thi được tốt hơn. Do vấn đề bản quyền nên mình không thể chia sẻ đề thi lên đây được, bạn nào quan tâm và muốn biết rõ hơn về nội dung thi thì có thể đăng ký mua 過去問 (đề thi cũ) các năm trước nhé. Đề thi cũ được Hiệp Hội bán thông qua công ty WAP, SĐT 03-5447-8808 hoặc website https://a-wap.com/test/. 3. Nội dung kỳ thi Dù tên kỳ thi là Kỹ năng phiên dịch y tế nhưng bài thi thì không chỉ có dịch thuật, mà còn kiểm tra khá kỹ cả kiến thức về y tế nữa. Để mọi người hình dung rõ hơn thì mình sẽ nói qua về các phần thi một chút. Bài thi thường gồm các phần: 3.1. Giải phẫu cơ thể Ví dụ, đề bài cho hình vẽ các bộ phận của tim/mắt/tai và đánh dấu khoảng 10 chỗ, và yêu cầu hãy trả lời tên bộ phận bằng tiếng Nhật là gì… Câu này thì không phải viết tay, mà đề sẽ cho sẵn từ rồi yêu cầu thí sinh chọn trong danh sách và điền vào. Cái này thì phải học hết các hình vẽ giải phẫu và tên tiếng Nhật + tiếng Việt, nếu không sẽ không trả lời được. Như năm nay mình học là mình cũng học hết từ tim, tai, mắt đến cơ quan nội tạng, cơ quan tiêu hoá, xương sọ, não v..v các kiểu theo đề cương luyện thi của WAP ^^. Các bạn đăng ký thi qua WAP năm nay đều được tham gia group ôn thi và được công ty hỗ trợ tài liệu các phần. 3.2. Phần yêu cầu dịch từ lẻ Có danh sách khoảng 20 từ, trong đó 10 từ tiếng Nhật và 10 từ tiếng Việt. Yêu cầu dịch chéo sang ngôn ngữ còn lại. Cái này năm nay mình thi thì không phải chọn từ danh sách mà là tự nghĩ ra từ tương ứng rồi tự viết tay câu trả lời vào bài. Làm cuối giờ cũng hơi có tí hốt hoảng suýt thì bỏ cả bài, may sau cũng định thần nhớ ra được kha khá. Phần này thì không có đề cương, chủ yếu dựa trên vốn từ thực tế. Ai hay đi dịch hoặc làm liên quan tới ngành y thì chắc lợi thế hơn. Như mình thì may cũng hay đọc báo, tài liệu, bài viết về y tế nên cũng nhớ được khá nhiều. Dù tên kỳ thi là Kỹ năng phiên dịch y tế nhưng bài thi thì không chỉ có dịch thuật, mà còn kiểm tra khá kỹ cả kiến thức về y tế nữa. 3.3. Trắc nghiệm đúng/sai về kiến thức y tế Nội dung này bao gồm nhiều mảng, như hỏi về chức năng các bộ phận trên cơ thể, về các loại xét nghiệm, triệu chứng các loại bệnh v..v…. Chẳng hạn có câu như thế này, điền chọn đúng hay sai? Ví dụ: ホルター心電図検査とは、24時間ホルターを装着し、日常に起きる心臓の異常を調べる検査である (Máy đo điện tim Holter được dùng để theo dõi nhịp tim liên tục trong vào 24 giờ, đúng hay sai?) 右心室の壁が左心室より厚いのは心臓から全身へ血液を送り出すので、筋層が発達しているからである。(Thành của tâm thất phải dày hơn và lớp cơ phát triển tốt hơn tâm thất trái vì nó bơm máu từ tim đi khắp cơ thể, đúng hay sai?) Phần này yêu cầu bạn phải có kiến thức nền nhất định về các loại bệnh, các cơ quan trong cơ thể cũng như khả năng đọc hiểu tiếng Nhật. Ví dụ khi học về tim thì ngoài hình giải phẫu tim với các vị trí của các van tim, các động mạch… bạn phải tra cứu thêm về cấu tạo và chức năng của từng van, từng động mạch… thì mới làm được bài. Năm nay mình thi còn có một phần gồm list hơn 10 từ tiếng Việt chỉ bộ phận, tên bệnh… sau đó là khoảng 10 câu miêu tả 1 đặc điểm, triệu chứng bệnh nào đó cũng bằng tiếng Việt rồi yêu cầu ghép vào với nhau. Cái này thì vì là tiếng Việt nên chỉ cần có kiến thức y tế là được. 3.4. Chế độ bảo hiểm, hệ thống y tế Nhật, đạo đức của người phiên dịch Bài thi có cả phần hỏi về chế độ bảo hiểm của Nhật, hệ thống y tế Nhật và một bài riêng về đạo đức của người phiên dịch y tế + các skill của nghề phiên dịch… Rất may phần này thì trong đề cương của WAP cũng có khá kỹ nên chỉ cần chăm chỉ học theo thì cũng làm được khá nhiều. 3.5. Dịch đoạn văn từ Việt sang Nhật Phần khó nhất và cũng liên quan tới dịch thuật nhất, chính là phần dịch đoạn văn từ tiếng Việt sang tiếng Nhật. Có năm còn có hẳn 2 bài dịch, 1 bài Nhật – Việt và 1 bài Việt – Nhật. Năm nay mình thi chỉ có 1 bài thôi, không thì có khi mình cũng chả làm hết được. Đề thi năm nay là yêu cầu dịch 1 đoạn văn khoảng hơn 10 dòng nói về bệnh hẹp van tim, các triệu chứng và lưu ý,… Phần dịch này với ai không quen dịch theo mình nghĩ là khá khó. Cá nhân mình cũng hay dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt hơn, nhưng may là do hay đọc tài liệu nhiều và khi đọc mình cũng hay chú ý cách dùng từ, hành văn của văn bản gốc nên may vẫn dịch được hết cả 10 câu + viết tay bài ra giấy trong 30 phút cuối giờ. Phần này mình thấy nhiều bạn thi cùng, kể cả mấy em làm điều dưỡng theo EPA cũng kêu khó và không làm hết. Mình nghĩ cái này phụ thuộc nhiều vào việc mình quen dịch hay đọc tài liệu nhiều tới mức nào. Việc đăng ký và đi thi giúp mình nghiêm túc với việc học hành hơn, và việc ôn thi cũng giúp mình củng cố thêm nhiều kiến thức hơn. 4. Phương pháp ôn thi Lúc gần sát thi mình cũng thấy khá khủng hoảng do học trước quên sau…Sau mình mới nhận ra là nếu chỉ đọc tài liệu mà không áp dụng vào đề thi làm thử, thì mình sẽ không biết rõ là cần đọc thêm cái gì khi học về từng phần. Tổng cộng thời gian mình ôn tử tế là khoảng 3 tuần trước khi thi. Mỗi tối mình ôn tầm 1-1.5 tiếng, hôm nào chăm chỉ thì 2 tiếng. Cũng có hôm mệt quá thì mình chỉ đọc lướt qua rồi đi ngủ. Tài liệu mình ôn chủ yếu theo bộ tài liệu của WAP cung cấp. Ngoài ra, mình cũng google thêm để đọc kỹ hơn những đoạn cần thiết, hoặc những phần trong đề năm cũ hỏi mà đề cương lại không đề cập tới. Lúc gần sát thi mình cũng thấy khá khủng hoảng do học trước quên sau. Rõ ràng đọc đề cương rồi mà lúc làm thử vào đề vẫn thấy như mới. Sau mình mới nhận ra là nếu chỉ đọc tài liệu mà không áp dụng vào đề thi làm thử, thì mình sẽ không biết rõ là cần đọc thêm cái gì khi học về từng phần. Vì thế, tầm 5 ngày cuối mình luyện lại đề cũ rồi đọc thêm về các kiến thức mà đề hay triển khai, nên sau cũng cảm thấy đỡ mông lung hơn nhiều. Chứ thú thật lúc mới ôn một tuần đầu mình cảm giác chỉ muốn bỏ thi quách cho xong vì… lắm thứ phải học quá. Nếu cho mình làm lại thì có lẽ mình sẽ học hành sớm hơn, khoảng 2 tháng trước khi thi gì đó. Chứ mình học 3 tuần như vậy mà lúc vào phòng thi cũng phải đuổi hình bắt chữ một số đoạn, đề thi 2 tiếng mà mình cũng làm vừa vặn hết thừa đúng 3 phút cuối giờ để soát thôi. Vậy nên nếu ai xác định thi nghiêm túc để lấy chứng chỉ thì mình nghĩ nên học sớm và mua đề thi cũ về nghiên cứu trước. Còn bạn nào muốn thi mà đọc phần mình viết ở trên thấy hốt quá thì …đừng sợ, đến thi JLPT mà còn nhiều người thi 2-3 lần mới đỗ mà. Mình cứ đăng ký thi rồi học rồi thi cọ xát vài lần cho chắc kiến thức mình nghĩ cũng hay. Quan trọng là việc đăng ký và đi thi giúp mình nghiêm túc với việc học hành hơn, và việc ôn thi cũng giúp mình củng cố thêm nhiều kiến thức hơn. Thôi đấy, bảo review nhanh mà cuối cùng lại thành dài quá rồi. Mọi người ai quan tâm tới kỳ thi có thể theo dõi các bài đăng hướng dẫn về kỳ thi trên group Cùng học tiếng Nhật y tế để theo dõi thêm các thông tin về kỳ thi cũng như các lớp luyện thi sắp tới nhé.
- [Kinh nghiệm] Cách giao tiếp trong công sở
Nhân chuyện ngồi viết sớ xin lỗi khách hàng vì những chuyện không phải do mình gây ra, Kôi tự nghĩ sao không lập một chủ đề như thế này để mọi người chia sẻ với nhau chuyện làm thế nào để giao tiếp tiếng Nhật tốt hơn? Kôi xin đưa ra một vài tips cá nhân trước. Những mẹo này đã giúp Kôi cải thiện được ít nhiều nên hy vọng sẽ có hiệu quả với các bạn đang cần. Ngược lại, cũng mong các cao thủ trong cõi này xông vào chủ đề này, vừa góp vui vừa chia sẻ kinh nghiệm cho toàn thể anh em ở đây. Let’s GO!!!! Tip: Uốn lưỡi 7 lần trước khi nói Trường hợp 1: NHỜ VẢ Thường khi muốn ai đó làm cái gì cho mình, chúng ta thường dùng cách nói: (1) Động từ てください。 Xịn xò hơn thì sử dùng kính ngữ. (2) お/ご danh từ ください。 Thường nếu dùng cách (1) sẽ gây cảm giác là đang ra lệnh và người nhận cũng sẽ không cảm thấy không vui vẻ gì. Nếu đặt mình vào vị trí của người tiếp nhận/ người nghe để nghĩ, chắc hẳn ai cũng mong muốn được người khác nhờ vả bằng các câu nói thủ thỉ, có đôi chút năn nỉ hơn. Vì thế, Kôi hay dùng cách nói thiên về hỏi han, nài nỉ hơn là ra lệnh. Đây là những cách Kôi hay dùng. 1. Với người trong cùng công ty, không cần lịch sự lắm. ご確認をお願いします。 Câu này Kôi rất hay dùng với anh sếp người Nhật. Dù biết 上下関係 (quan hệ trên dưới) trong công ty trật lất rồi nhưng anh ấy còn mặc hẳn quần đùi để tiếp khách nên Kôi không thể dùng kính ngữ để nói chuyện với anh được. 2. Với khách hàng, cần phải lịch sự. Lúc này tùy tâm trạng có mỏi tay, mỏi miệng hay không mà sẽ nói câu dài hay câu ngắn. Ví dụ nhé. ご確認を頂ければと思います/存じております。 ご確認いただけませんでしょうか。 ご確認いただけますと、(大変)幸いです/ありがたいです/幸甚でございます。 Sau đây là combo dài loằng ngoằng thể hiện mình nhiều chữ nhưng khuyến khích các anh chị kỹ sư không nên dùng. Kỹ sư cầu nối làm việc trong dự án thì nên ưu tiên trình bày rõ ràng, mạch lạc hơn là nói dài dòng lan man. お忙しいところ恐縮ですが/お手数をおかけてしまいす恐れ入りますが、ご確認くださいますようお願い申し上げます。 Nếu đặt mình vào vị trí của người tiếp nhận/ người nghe để nghĩ, chắc hẳn ai cũng mong muốn được người khác nhờ vả bằng các câu nói thủ thỉ, có đôi chút năn nỉ hơn. Trường hợp 2: TỪ CHỐI Nhiều khi phía khách hàng sẽ yêu cầu một vài chuyện “trên trời” nhưng chúng ta là những con người bình thường chứ nào phải siêu nhân, nên thực tế có nhiều thứ ta không thể làm được. Khi ấy, chắc nhiều người sẽ nói như thế này. ○○ができません。hay ○○が難しいです。 Lịch sự hơn vẫn là kính ngữ. ○○が不可能です。hay ○○しかねます。 Nhưng theo Kôi, từ chối cũng nên “lươn lẹo” một tí vì rất có thể bây giờ thì mình tránh nhưng tới lần sau mình lại phải theo cho bằng được. Và đây là vài cách Koi hay dùng. Tùy vào mức độ bất – khả – kháng mà Koi sẽ lựa chọn từ chối thẳng hay chối khéo. 1. Từ chối khéo. 開発費用は開発費用は工数により、異なりますので、 現時点詳細見積は提出しかねます。 ご了承くださいますようお願いいたします。 ○○件について、 現在の仕様によると、 100万円で開発するのが困難になるかと想定しております。 もしより詳しい仕様及びサンプルデータを頂ければ、 適切なソリューションを提案させていただきます。 2. Từ chối thẳng. ○○件について ○○のため、見送りさせていただきます。 ○○のため、お断りさせていただきます。 Sau đó thêm vào vài dòng “mải thao” (là thảo mai đó Ahihi) せっかくご紹介せっかくのご紹介をいただき、大変心苦しいのです。次の機会を楽しみにしております。 Từ chối cũng nên “lươn lẹo” một tí. Trường hợp 3: XIN LỖI Trường hợp này rất hay dùng. Mà Kôi thì rất cay cú vì toàn đi xin lỗi hộ những gì mình không gây ra. Ví dụ team estimate (ước tính) thiếu, team misunderstanding (hiểu lầm), team bàn giao chức năng muộn… Câu xin lỗi thì chắc mọi người cũng nắm được nhiều, thường là: すみません。 Lại thêm vài câu kính ngữ hay dùng. 失礼いたしました。 申し訳ございません/申し訳ございませんでした。 Bổ sung thêm mấy câu văn vở. ○○の件、大変お待たせいたしました。 深くお詫び申し上げます。 ご迷惑をおかけてしまい、大変○○ 何度も/度々大変失礼いたしました。 Nhưng vấn đề là xin lỗi xong rồi để đó là không được. Đứng trên lập trường của người được xin lỗi thì người ta sẽ quan tâm đến biện pháp khắc phục hơn là mấy câu nói dài dòng, rắc rối kia. Vì thế, sau khi xin lỗi xong phải đưa ra giải pháp. Đây là một vài câu thể hiện giải pháp mà Kôi thường sử dụng. 今後同じミスを繰り返さないよう十分留意いたします。 今後同じようなことが起こらないよう対応して参ります。 今後このようなことがないよう早急に対策強化を進める所存でございます。 Nhưng Kôi vẫn luôn tâm niệm, trong giao tiếp yếu tố tiên quyết là chân thành. Mấy câu dài dòng ở trên thường được dùng khi viết mail, còn trong dự án khi xảy ra các vấn đề mà kỹ sư cần xử lý gấp nên ưu tiên hình thức ngắn gọn và đưa ra được giải pháp cụ thể để khắc phục vấn đề. Ví dụ: ○○件について、 「ほうれん草」をせず、勝手に行動して、 被害を与えてしまったこと、大変申し訳ございません。 今後同じミスが起こらないように、 チームワークのルールを設定して、徹底的に守るようにいたします。 ○○件について 説明不足で、違和感を与えてしまったこと、 大変申し訳ございませんでした。 再度文面にて説明させていただきます。 ○○件について 大変お待たせいたしました。 今後早急に対策するようチームに注意いたします。 Sau khi xin lỗi xong phải đưa ra giải pháp. 3 trường hợp với 1 tip như trên cũng khá dài rồi nhỉ. Tóm lại, khi giao tiếp bạn cần lưu ý 4 điểm sau: Đối phương là ai để dùng cách nói phù hợp. Xuất phát điểm là sự chân thành để không chỉ đơn thuần là lời nói hay dòng chữ mà còn thể hiện được cả cảm xúc của mình trong đó. Không nhất thiết phải dài dòng văn tự, tùy từng vai trò, hoàn cảnh hãy chọn cách hành văn sao cho phù hợp. Khi trình bày, ưu tiên ngắt nghỉ đúng chỗ. Như vậy, người nghe sẽ không chán, xuống dòng đúng nơi thì người đọc sẽ không tẩu hỏa nhập ma khi phải nhìn một tràng giang kí tự.
- [Kinh nghiệm] Thi IT Passport
Là một người xuất thân từ khoa Công nghệ thông tin của Đại học Bách Khoa, trong khi các bạn đã và đang thi AP, AWS, v.v. thì mình mới chỉ lấy được IT Passport (IP). Cũng vì ngày xưa không nghĩ sẽ làm IT nên mải mê kiếm tiền, không chịu đi học nên bây giờ nghiệp vả không trượt phát nào. Bạn có thể xem đây là bài chia sẻ của một bạn xuất thân bunkei – khối xã hội. Hy vọng sẽ giúp được cho những bạn cần tìm hiểu. 1. Đánh giá tổng quan Nhiều người nhận định rằng IP là cấp bậc cơ bản của các chứng chỉ liên quan đến IT tại Nhật, sau đó là FE, v.v. Tuy nhiên, mình cho rằng điểm khác của các kỳ này là đối tượng mà nó hướng đến. Với FE, cấu trúc đề thi có đến 70% các câu hỏi liên quan đến kỹ thuật, còn lại 30% bao gồm các câu hỏi về chiến lược và quản lý. Trong khi đó, tỷ lệ câu hỏi giữa các phần được phân chia đồng đều trong đề thi IP. Có thể thấy rằng, những kiến thức liên quan đến chiến lược và quản lý được chú trọng nhiều hơn ở chứng chỉ IP. Chứng chỉ IP phù hợp với những bạn làm các vai trò tổng quan như khối văn phòng, sales, comtor, hay những bạn muốn phát triển lên các vị trí như Business Analyst, Consultant, CSM, v.v, những vị trí phải tiếp xúc nhiều với khách hàng, hay hỗ trợ Project Manager để chạy dự án suôn sẻ hơn. 2. Kiến thức của IT Passport Dải kiến thức của kỳ thi này được chia thành 3 nhóm chính: ① 戦略(Chiến lược – Strategy) Phần này có cảm giác như mình được học để trở thành 1 CEO, điều hành 1 tổ chức với những kiến thức căn bản về doanh nghiệp, ví dụ như: Các định nghĩa nền liên quan đến doanh nghiêp Các phương pháp phân tích dữ liệu để hoạch định chiến lược Các khái niệm liên quan đến tài nguyên trong doanh nghiệp và các thuật ngữ liên quan Kiến thức cơ bản về sales, về marketing, v.v. ② 管理 (Quản lý – Management) Phần này gần giống như mình sẽ đóng vai 1 PM và học về các khái niệm liên quan đến quá trình thực hiện dự án. Vì đây là kiến thức quản lý dự án căn bản nên có thể áp dụng với bất kì dự án nào. Một số khái niệm bạn sẽ gặp trong phần này như: 要件定義 Định nghĩa yêu cầu システム設計 Thiết kế hệ thống (内部設計・外部設計) リスク管理 Quản lý rủi ro PDCA (Plan Do Check Action) ③ 技術 (Kỹ thuật – Technical) Với những ai chưa học ITP và non-tech thì thường nghĩ đây là phần khó nhất. Nhưng thật ra, kiến thức kỹ thuật của ITP khá là căn bản, đa phần là “cưỡi ngựa xem hoa” và nhiều nội dung gần gũi với cuộc sống nên không khó như tưởng tượng. Mình thấy phần này toàn lý thuyết, học thuộc là được. Còn các kiến thức liên quan đến giải thuật, tính toán, v.v. tương đương với toán cấp 2. Có lẽ điểm khó nhất là dịch được đề và áp dụng công thức vào tính toán. Lúc mình thi, mình vứt luôn 1 câu phần này vì quên mất công thức tính… tổ hợp. 3. Cách thức thi Bài thi ITP làm trên máy tính tại địa điểm thi (Computer-Based Testing). Cấu trúc đề thi Đề thi có 100 câu hỏi làm trong 120 phút, được chia làm 3 phần (như đã giới thiệu ở trên), bao gồm: 35 câu hỏi về chiến lược 20 câu hỏi về quản lý 45 câu hỏi về kỹ thuật Cách tính điểm Mỗi câu hỏi sẽ có số điểm khác nhau. Để đỗ chứng chỉ IP, bạn phải đạt được 600 điểm trở lên và không phần nào dưới 300. Đăng ký thi: Online – Lệ phí thi 5700¥ (mình không biết ở VN đăng ký như thế nào) Lưu ý Ở Nhật, kỳ thi IP được tổ chức hàng tháng. Tuy nhiên, vì số lượng người đăng ký dự thi lớn, bạn nên đăng ký trước khoảng 2 tháng để giữ chỗ. Ở Việt Nam, kỳ thi này chỉ được tổ chức 2 lần, vào tháng 4 và tháng 10 hàng năm. Đề thi bằng tiếng Anh với bản dịch tiếng Việt level Google Translate. 4. Cách thức ôn tập Dưới đây là các tài liệu mình sử dụng: ① 令和2年いちばんやさしいITパスポート – 絶対合格の教科書 ② ITパスポート過去問題集かんたん合格. (Mình không tiến cử quyển này vì số bài ít, dù giải thích kết quả khá cặn kẽ. Thay vào đó, bạn có thể dùng app ITパスポート có icon là IT 2021 パスポート màu xanh đậm sẽ có nhiều bài để ôn hơn) Đánh giá cá nhân Nội dung của sách được viết đơn giản, giải thích dễ hiểu, tuy nhiên, sẽ phù hợp hơn với bạn nào đã đi làm và trực tiếp trải nghiệm các nội dung đó. Với những bạn sinh viên hoặc chưa có kinh nghiệm làm ở công ty IT sẽ khá khó để có thể hình dung nếu không có người hỗ trợ. Ngoài ra, kiến thức trong 2 cuốn này chỉ đủ để đỗ – không thể đỗ được điểm cao. Đề thi cập nhật theo trend, như lần mình thi, nội dung liên quan đến security và IoT ra rất nhiều. Bên cạnh đó, đề thi còn có câu hỏi liên quan đến đối sách của chính phủ Nhật, nếu không đọc tin tức về lĩnh vực này sẽ không thể làm được. Kinh nghiệm đi thi thực tế Thật ra mình đi thi khi đang đứng 1 lớp dạy ITP cho các bạn muốn chuyển việc. Vì vậy, trước khi đi thi, các kiến thức trong sách đã được mình xào đi xào lại cỡ 4 ~ 5 lần. Cộng thêm việc mình làm khá nhiều vị trí trong công ty nên khá tự tin sẽ đỗ. Vậy nhưng lúc làm bài thi, mình cũng chỉ làm được khoảng 80% vì có những khái niệm mình không gặp trong sách hay trong công việc, và do kiến thức trải rộng nên đôi chỗ mình đã bị quên. P/s: Đây là cách mình áp dụng khi ôn thi – dạy cho người khác. Bởi khi dạy, mình phải giải thích cho người ta hiểu thì mới gọi là nắm được chắc, kết quả khi thi là kết quả thật chứ không phải ăn may đánh bừa mà qua. Thật ra thì mình lười học, mở một lớp rồi vừa dạy, vừa trao đổi với người khác thú vị hơn nhiều. (Một lần nữa, đây là suy nghĩ cá nhân, mong các bạn không để tâm quá nhiều.) 5. Các câu hỏi liên quan ※ Mất bao lâu để học xong? Nội dung sách ① gồm 15 chương. Mình chia 1 chương học trong 3 buổi, mỗi buổi 1.5 tiếng, trong đó có 2 buổi đầu học lý thuyết, buổi thứ 3 chữa bài tập liên quan. Nếu ngày nào cũng giữ được tốc độ 1.5 tiếng như vậy thì chỉ cần gần 2 tháng là có thể hoàn toàn học hết nội dung của 2 quyển kia. ※ Nên tự học hay nên học theo lớp? Hoàn toàn có thể tự học được. Như đã nói ở trên, kiến thức toàn những cái căn bản. Cái khó của IP là nhiều thuật ngữ và nhiều nội dung mà nếu không đi làm trải nghiệm thực tế trong công việc thì không hiểu được. Với những bạn sinh viên hoặc từ các ngành không liên quan thì mình khuyên các bạn nên tìm một người hướng dẫn. ※ Trong quá trình học có những khó khăn gì? Cá nhân mình thấy khó khăn nhất là khó giữ được động lực. Càng có tuổi càng có nhiều yếu tố ngoại cảnh tác động. Chẳng hạn như, bạn đang học hăng say thì gặp chỗ khó, lúc đấy chỉ muốn “đốt sách” và đi ngủ. Tuy nhiên, IP cho mình cảm giác học thích hơn là học JLPT. Lý do là vì, các kiến thức của IP cần thiết, gắn liền với công việc nên tạo được hứng thú. Dù công ty mình không bắt ép nhân viên phải có chứng chỉ này, nhưng đây là lần đầu tiên mình nghiêm túc học 1 chứng chỉ gì đó vì thích như vậy. Một lần nữa, hy vọng bài viết của mình giúp được ai đó. **Một số từ chuyên ngành được sử dụng trong bài viết: AP (Applied Information Technology Engineer Examination), AWS (Amazon Web Service), IT Passport (IP), FE (Fundamental Information Technology Engineer Examination), CSM (Customer Success Management).
- [E-Learning] Chi tiết những câu hỏi nhà tuyển dụng nhất định hỏi bạn
Được chọn hay bị từ chối, điều này phụ thuộc rất nhiều vào cách bạn nỗ lực tập luyện giao tiếp, phân tích tình huống và nắm bắt tâm lý nhà tuyển dụng trong buổi phỏng vấn. Vòng phỏng vấn sẽ giúp nhà tuyển dụng đánh giá ứng viên một cách tổng thể, bao gồm: hình thức bên ngoài, ngôn ngữ hình thể, tính chuyên nghiệp, trình độ học vấn, kỹ năng chuyên môn, kinh nghiệm, thái độ, động cơ làm việc, kỹ năng giao tiếp,… Là một ứng viên, ta nên chuẩn bị những gì? Tác phong thế nào sẽ để lại ấn tượng tốt? Chủ đề nào thì nên nói gì và nói như thế nào? Chắc hẳn đây là những thắc mắc mà nhiều bạn đang gặp phải. Hãy cùng tìm hiểu 4 dạng câu hỏi thường gặp trong vòng phỏng vấn cá nhân nhé! 1. Câu hỏi chung Câu hỏi chung là dạng câu hỏi cơ bản về ứng viên. Với câu hỏi này, nhà tuyển dụng muốn hiểu rõ hơn về con người bạn. Những câu hỏi điển hình ở phần này như: Bạn là ai, bạn học ngành gì, có sở thích cá nhân đặc biệt nào không? Câu hỏi chung được ví như “Miếng trầu làm đầu câu chuyện”, giúp cuộc phỏng vấn được tự nhiên hơn. Để có một khởi đầu thật ấn tượng, bạn nên có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Việc này sẽ giúp bạn giữ được sự bình tĩnh, tự tin, và ghi điểm lớn trong mắt nhà tuyển dụng. 2. Câu hỏi về trải nghiệm cuộc sống Sau khi hai bên đã cảm thấy thoải mái với bầu không khí, nhà tuyển dụng sẽ tìm hiểu kĩ hơn về kinh nghiệm của ứng viên thông qua dạng câu hỏi về các trải nghiệm thực tế. Đây là loại câu hỏi đánh dấu bước chuyển, từ phần thông tin cá nhân sang kinh nghiệm làm việc và hoạt động ngoại khóa đáng chú ý đã được trình bày trong hồ sơ xin việc. Thay vì lặp lại những gì đã ghi trong CV, nhà tuyển dụng sẽ đánh giá và tìm hiểu sâu hơn các đặc điểm quyết định sự phù hợp của ứng viên. Một câu hỏi tiêu biểu có thể kể đến đó là: Những khó khăn mà bạn đã gặp phải trong học tập/công việc/cuộc sống và làm thế nào để vượt qua khó khăn đó. 3. Câu hỏi xử lý tình huống Xử lý tính huống là dạng câu hỏi nhằm đánh giá sự nhạy bén, tinh tế cũng như phong cách làm việc của ứng viên. Đây thường là những câu hỏi hóc búa nhất trong buổi phỏng vấn. Đối với dạng câu hỏi này, ứng viên nên dành thời gian suy nghĩ để có thể đưa ra ý tưởng. Nhà tuyển dụng thường yêu cầu một câu trả lời có chất lượng chứ không phải một ý kiến chỉ để lấp đầy khoảng trống. Hãy liên tưởng và kết nối tình huống đang gặp phải với một tình huống tương tự trong cuộc sống để đưa ra một cách giải quyết hiệu quả nhất. 4. Câu hỏi đuổi Những câu hỏi đuổi thường được sử dụng để vặn lại câu trả lời của ứng viên. Đây là cách nhà tuyển dụng nhận biết đâu là sự thật và đâu là lời nói dối. Câu hỏi đuổi cũng giúp công ty không lầm tưởng về khả năng cũng như kinh nghiệm của ứng viên. Để chuẩn bị tốt cho phần này, bạn có thể lên danh sách những câu trả lời cho câu hỏi giả tưởng mà nhà tuyển dụng có thể hỏi. Từ những câu trả lời mẫu, ứng viên có thể sắp xếp một cách khoa học các thông tin để tạo thiện cảm cho phỏng vấn viên. 5. Nếu vậy thì, bạn nên luyện tập như thế nào? Chủ đề 5 là công cụ hữu ích giúp các bạn có một buổi phỏng vấn thành công. Với 4 tình huống thực tế, tài liệu đưa ra các dạng câu hỏi “không theo mẫu” mà ứng viên có thể gặp trong buổi phỏng vấn. Với mỗi ví dụ là câu trả lời tham khảo được phân tích cụ thể. Một lời khuyên nữa là bạn hãy cố gắng “tưởng tượng”, suy nghĩ xem với các vấn đề bạn đưa ra, nhà tuyển dụng có khả năng hỏi ngược lại bạn những gì. Bằng điều này bạn có thể chuẩn bị tốt nhất cho những tình huống câu hỏi bị động trong buổi phỏng vấn. 6. Chuỗi sản phẩm E-Learning – Chìa khóa tìm việc thành công tại Nhật Được ví như cuốn cẩm nang dành cho người ít kinh nghiệm tìm việc tại Nhật Bản, bộ sản phẩm E-Learning gồm các video và tư liệu nhằm giới thiệu và giải thích những nội dung cần thiết nhất, đồng thời cung cấp công cụ hữu ích được tổng hợp từ kinh nghiệm thực tế của cộng đồng người Việt Nam hiện đang làm việc tại Nhật Bản. Tải xuống tài liệu tại:

![[E-learning] Giới thiệu chung về Shukatsu](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_3bf4bc68007b466abe5e9387e3ecfe41~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_3bf4bc68007b466abe5e9387e3ecfe41~mv2.png)
![[E-learning] Phân tích bản thân](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_c833b705de57483faffd74522d65d88e~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_c833b705de57483faffd74522d65d88e~mv2.png)
![[Kinh nghiệm] Recruiter (P1): 5 câu hỏi thường gặp khi phỏng vấn xin việc tại Nhật](https://static.wixstatic.com/media/4adc79_02b9e39e8aef44afa46543fa75d28237~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/4adc79_02b9e39e8aef44afa46543fa75d28237~mv2.png)
![[E-learning] Tìm hiểu doanh nghiệp trong quá trình tìm việc ở Nhật Bản](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_f4168bef13c14d67b24b4525eba21bed~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_f4168bef13c14d67b24b4525eba21bed~mv2.png)
![[Kinh nghiệm] Recruiter (P2): Bốn tips giúp làm việc hiệu quả](https://static.wixstatic.com/media/11062b_294a0c3eaffc4c6d9679264752c219b1~mv2.jpg/v1/fit/w_176,h_124,q_80,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/11062b_294a0c3eaffc4c6d9679264752c219b1~mv2.jpg)
![[E-learning] Trọn bộ Entry sheet từ 12 công ty lớn thuộc 6 ngành hot](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_53495c8236694977b491299618d8e19a~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_53495c8236694977b491299618d8e19a~mv2.png)

![[Kinh nghiệm] Thi chứng chỉ phiên dịch y tế 医療通訳技能検定試験](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_7191e5afc15e469da5d6d564c8231205~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_7191e5afc15e469da5d6d564c8231205~mv2.png)
![[Kinh nghiệm] Cách giao tiếp trong công sở](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_6c057930fd7846f790937a28154ddb89~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_6c057930fd7846f790937a28154ddb89~mv2.png)
![[Kinh nghiệm] Thi IT Passport](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_ca6a84f82a73482f8cdacd95d5efda7b~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_ca6a84f82a73482f8cdacd95d5efda7b~mv2.png)
![[E-Learning] Chi tiết những câu hỏi nhà tuyển dụng nhất định hỏi bạn](https://static.wixstatic.com/media/c9ebd7_78dad5f8c9c74fe8b5dd569d343fd637~mv2.png/v1/fit/w_176,h_124,q_85,usm_0.66_1.00_0.01,blur_3,enc_auto/c9ebd7_78dad5f8c9c74fe8b5dd569d343fd637~mv2.png)